CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 kéo dài và ngày càng diễn biến phức tạp trên thế giới và trong nước khiến cho triển vọng phục hồi kinh tế còn nhiều bất trắc. Giá hàng hóa cơ bản được dự báo giữ ở mức cao, rủi ro về lạm phát, bất ổn tài chính có xu hướng tăng cao, các ngân hàng trung ương trên thế giới có xu hướng thu hồi các biện pháp nới lỏng sớm hơn dự kiến. Theo báo cáo 6 tháng đầu năm 2021 của Ngân hàng Nhà nước, dưới tác động của dịch bệnh Covid-19, tỷ lệ nợ xấu nội bảng có xu hướng tăng trong các tháng đầu năm 2021, từ mức 1,69% hồi cuối năm 2020 lên mức 1,78% vào thời điểm cuối tháng 4/2021.Thực tế ghi nhận từ báo cáo tài chính quý II/2021 của các ngân hàng cho thấy, hơn nửa số ngân hàng đã công bố đều ghi nhận số dư nợ quá hạn tăng cao so với cuối năm 2020. “Nếu vẫn tiếp tục cho vay thì hậu quả kế tiếp sau đợt dịch lần thứ 4 này sẽ là khó có thể hạn chế được.
Do đó, các tổ chức tín dụng cần rút kinh nghiệm và rà soát, tính toán kỹ lưỡng khi cho vay trong bối cảnh dịch bệnh chưa chấm dứt. Khi đợt dịch lần thứ 4 qua đi thì các tổ chức tín dụng cần rút ra bài học là khi cho vay mới cần lựa chọn lộ trình nào cho phù hợp để đảm bảo an toàn và hạn chế rủi ro tới mức thấp nhất. Trong nửa đầu năm 2021, dư nợ cho vay khách hàng cá nhân của AgriBank là 1,23 triệu tỷ đồng, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Ngoài ra, thu nhập từ lãi và dịch vụ của AgriBank cũng bị ảnh hưởng do duy trì thực hiện các chương trình, chính sách giảm lãi suất cũng như các chi phí hỗ trợ khách hàng.
Đặc biệt, Agribank còn triển khai các giải pháp hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 bằng nhiều hình thức như: Cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, giữ nguyên nhóm nợ, cho vay mới với lãi suất ưu đãi, hạ lãi suất cho vay… tạo điều kiện thuận lợi trong vay vốn cho doanh nghiệp và người dân, góp phần hạn chế tín dụng đen. Agribank đang xây dựng và ứng dụng nhiều chương trình cho vay với lãi suất ưu đãi, thể hiện vai trò của mình trong việc sẵn sàng đồng hành và chia sẻ với người dân và khách hàng trước những ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19. 1 Qua những lý do nêu trên, em đã chọn đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình là “Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Huyện An Minh Kiên Giang II” nhằm nghiên cứu và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh tại đơn vị. Từ đó có thể đưa ra một số phương án cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Huyện An Minh Kiên Giang II nhằm nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của mình trong tương lai.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.1 Mục tiêu chung Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Huyện An Minh Kiên Giang II trong giai đoạn 2018 – 2020 và 06 tháng đầu năm 2021.
Từ đó, đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng.1 Mục tiêu cụ thể - Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Huyện An Minh Kiên Giang II. - Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Huyện An Minh Kiên Giang II. - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Huyện An Minh Kiên Giang II.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.1 Không gian nghiên cứu Đề tài được thực hiện tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Huyện An Minh Kiên Giang II, tọa lạc tại Tổ 9, Khu Phố II, Thị Trấn Thứ Mười Một, Huyện An Minh, Tỉnh Kiên Giang.2 Thời gian nghiên cứu - Số liệu phân tích trong đề tài được thu thập từ năm 2018 đến năm 2020 và 06 tháng đầu năm 2021. - Đề tài được thực hiện trong thời gian thực tập từ ngày 04/10/2021 đến ngày 29/11/2021.3 Đối tượng nghiên cứu Đề tài nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng như: nguồn vốn, tài sản, thu nhập, chi phí và lợi nhuận.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU Nguyễn Gia Bảo (2018), đề tài: “Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Cái Răng – Cần Thơ”.
Nội dung chính của đề tài này là phân tích thực trạng huy động vốn, tình hình hoạt động tín dụng và kết quả hoạt động kinh doanh thông qua tình hình thu nhập, chi phí, lợi nhuận cùng với phân tích một số chỉ tiêu đo lường kết quả và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Đề tài này sử dụng phương pháp so sánh để phân tích đối chiếu số liệu qua các năm, phương pháp xác định tỷ trọng và phương pháp xác định tỷ số nhằm phân tích các chỉ tiêu đo lường rủi ro và lợi nhuận của ngân hàng để từ đó tìm ra những nhân tố làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Nguyễn Phương Thanh (2018), đề tài: “Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Cần Thơ II”. Đề tài phân tích và đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh qua các chỉ tiêu kinh tế như ROA, ROS và đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng thông qua các chỉ số như vòng quay vốn tín dụng, hệ số thu nợ.
Đề tài này chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh số tuyệt đối và tương đối để phản ánh so sánh các chỉ tiêu. Huỳnh Thị Thanh Vân (2018), đề tài: “Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam chi nhánh Tây Đô”. Đề tài phân tích và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thông qua các chỉ tiêu kinh tế như ROA, ROS, tổng chi phí/tổng thu nhập… Đề tài này chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh số tuyệt đối và tương đối để phản ánh sự biến động của các chỉ tiêu. Những tài liệu trên là cơ sở giúp tôi phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng và phản ánh kịp thời các chỉ tiêu về tài chính.
Đồng thời, dựa trên những cơ sở đó giúp cho đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn 3 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm Theo Pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước số 38-LCT/HĐNN8 ngày 23/5/1990 về ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 về các tổ chức tín dụng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành: “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Như vậy, có thể nói NHTM là một trong các tổ chức tài chính quan trọng bậc nhất của nền kinh tế.
Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay góp phần phát triển kinh tế. Do vậy NHTM là một kênh quan trọng trong chính sách của Chính Phủ nhằm ổn định kinh tế.2 Chức năng • Chức năng trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng là chức năng quan trọng và cơ bản nhất của NHTM, nó không những cho thấy bản chất của NHTM mà còn thể hiện được nghiệp vụ chính yếu của NHTM. Trong những chức năng này, chức năng trung gian đi vay và cho vay của NHTM tức là vai trò huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế và sử dụng nguồn vốn tín dụng để cấp tín dụng, đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh và vốn đầu tư cho các doanh nghiệp và nhu cầu tiêu dùng cá nhân (Thái Văn Đại và Bùi Văn Trịnh, 2010). • Chức năng trung gian thanh toán Cũng nhờ thực hiện chức năng này mà hệ thống NHTM góp phần đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa.
Phần lớn các giao dịch thanh toán qua ngân 4 hàng là những giao dịch có giá trị lớn, phạm vi thanh toán rộng, vượt qua khỏi phạm vi của địa phương, của vùng hay của quốc gia. Nhờ vậy, mối quan hệ thương mại ngày càng được mở rộng ra quốc tế (Thái Văn Đại và Bùi Văn Trịnh, 2010). • Chức năng tạo tiền bút tệ Khi thực hiện chức năng trung gian huy động vốn và cấp tín dụng cho nền kinh tế thông qua hệ thống ngân hàng thương mại có khả năng tạo ra một khối lượng tiền mới – tiền trên tài khoản mà người ta gọi là tiền bút tệ. Tiền bút tệ dù được tạo ra trên hệ thống tài khoản của ngân hàng thực tế nhưng nó góp phần làm tăng thanh toán tiền tệ trong lưu thông (Thái Văn Đại và Bùi Văn Trịnh, 2010).2 Khái quát về phân tích hoạt động kinh doanh 2.1 Khái niệm Phân tích là sự phân chia, chia nhỏ sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành nên sự vật, hiện tượng đó (Phạm Văn Dược và Huỳnh Đức Lộng, 2015).
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, nó được phản ánh qua hệ thống các chỉ tiêu kinh tế, các báo cáo của kế toán… (Phạm Văn Dược và Huỳnh Đức Lộng, 2015).