ĐẶT VẤN ĐỀ Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã và đang ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế Việt Nam, khiến cho lạm phát tăng cao. Cùng với sự chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường, khi mà số lượng các doanh nghiệp không ngừng tăng lên, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập nền kinh tế toàn cầu và khu vực thì sự cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗ lực nhiều hơn. Cũng như những ngành khác thì ngành Dược cũng chịu ảnh hưởng không hề nhỏ của cuộc khủng hoảng vì đây là một trong những mặt hàng thiết yếu đối với nhân dân. Trong những năm qua với sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, ngành Dược Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể.
Ngành Dược đã đáp ứng đủ thuốc cho nhu cầu phòng và chữa bệnh của nhân dân. Từ những cơ sở sản xuất cung ứng nhỏ bé, đến nay ngành Dược đã xây dựng được một hệ thống tương đối hoàn chỉnh từ sản xuất, xuất nhập khẩu, lưu thông phân phối thuốc tới tận người bệnh. Các doanh nghiệp dược Việt Nam đã tiến hành cổ phần hóa từ những năm 90 của thế kỷ trước và đã đạt được nhiều thành tựu, hiệu quả kinh doanh tăng rõ rệt. Nhiều doanh nghiệp đã khẳng định được chỗ đứng và thương hiệu của mình trong ngành, hoàn thành tốt nhiệm vụ cung ứng thuốc cho nhân dân mà Đảng và nhà nước giao cho.
Trong hệ thống các công ty dược tuyến tỉnh, Công ty cổ phần Dược-Vật tư y tế tỉnh Lào Cai là một doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm và vật tư y tế được thành lập từ năm 1991. Đến tháng 10 năm 2003, Công ty chính thức thực hiện Luật cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và có có tên chính thức là Công ty cổ phần Dược–Vật tư y tế tỉnh Lào Cai. Là một doanh nghiệp địa phương nhỏ, trước những thách thức của cơ chế thị trường, công ty đã và đang khắc phục khó khăn, không ngừng nâng cao sức cạnh tranh, đề ra những đường lối đúng đắn, phương án cũng như chiến lược kinh doanh phù hợp, phát huy lợi thế để vươn lên khẳng định mình. Với mong muốn tìm hiểu, đánh giá hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Dược–Vật tư y tế tỉnh Lào Cai trong 5 năm từ 2010-2014, từ đó đề xuất một 1 Luan van thac si số giải pháp với hy vọng góp phần đổi mới hoạt động của công ty, trong khuôn khổ và điều kiện cho phép, đề tài: “Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Dƣợc–Vật tƣ y tế tỉnh Lào Cai giai đoạn 2010-2014” được tiến hành với mục tiêu: Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Dược–Vật tư y tế tỉnh Lào Cai giai đoạn 2010-2014 thông qua một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản Từ kết quả trên, đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong những năm tiếp theo.
2 Luan van thac si CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Vài nét về thị trƣờng dƣợc phẩm Việt Nam Trong những năm qua, cùng với các ngành kinh tế - xã hội khác, ngành Dược Việt Nam đã có nhiều tiến bộ và thu được những kết quả rất đáng ghi nhận. Toàn ngành đã chủ động, tích cực phát triển sản xuất, mở rộng kinh doanh, hội nhập sâu rộng với các nước trong khu vực và trên thế giới, hoàn thành tốt nhiệm vụ đảm bảo cung ứng đủ thuốc có chất lượng với giá cả phù hợp, hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. [15] Tổng hợp số liệu thống kê của BMI, IMS Health và Cục quản lý Dược Việt Nam, FPTS dự đoán mức chi tiêu một số chỉ tiêu tăng trưởng trọng yếu trong giai đoạn 2014-2028 như sau: Tăng trưởng dân số Việt Nam: bình quân 2%/năm và vượt mốc 120 triệu người vào năm 2028 Tăng trưởng tổng tiền sử dụng thuốc tại Việt Nam: Bình quân 17%/năm (bao gồm 2 yếu tố cốt lõi là nhu cầu và mức tăng giá thuốc bình quân 8,6%/năm) Tăng trưởng tổng tiền sử dụng thuốc sản xuất trong nước tại Việt Nam: `14,3%/năm.
Chuỗi giá trị ngành công nghiệp dược Việt Nam Chuỗi giá trị của ngành công nghiệp dược Việt Nam được chia làm 3 nhóm: Nhóm sản xuất: bao gồm các nhà cung ứng nguyên liệu sản xuất dược phẩm, các công ty dược nội địa, các công ty dược FDI Nhóm phân phối: bao gồm các nhà phân phối sỉ, phân phối lẻ nội địa và nước ngoài, hệ thống chợ sỉ. Nhóm bán lẻ: bao gồm bệnh viện, nhà thuốc, các phòng mạch tư nhân…Đây là nhóm trực tiếp phân phối thuốc đến tay người tiêu dùng cuối cùng trong chuỗi giá trị. [25] 3 Luan van thac si Hình 1.1: Chuỗi giá trị ngành công nghiệp dược Việt Nam 1. Tình hình tiêu thụ thuốc trong nước Sự phát triển về giáo dục dẫn đến nhận thức cao hơn của người dân Việt Nam về việc chăm sóc sức khỏe.
Vì vậy, khi có điều kiện để tiếp cận với thị trường thuốc và dược phẩm, thì nhu cầu ngày càng cao của người dân tạo điều kiện thuận lợi cho ngành dược phát triển. [15] Theo thống kê của Cục quản lý Dược Việt Nam, tính đến năm 2014, bình quân tiền thuốc đầu người của Việt Nam đạt khoảng 38 USD/người/năm. Mặc dù có sự tăng trưởng đều đặn qua các năm song con số này vẫn là nhỏ so với nhiều nước trong khu vực cũng như trên thế giới (năm 2013 bình quân tiền thuốc đầu người/năm của các nước đang phát triển đạt gần 100USD trong khi bình quân của thế giới là gần 200 USD). [5] [6] [7] 4 Luan van thac si Bảng 1.1 : Bình quân tiền thuốc đầu người của Việt Nam ĐVT: USD/người/năm Năm 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 Số liệu 16,4 19,8 22,2 25,4 29,5 33,1 38,0 USD/người/năm 40 35 38 33,1 30 29,5 25 25,4 20 22,2 19,8 15 16,4 10 5 0 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 Năm Tiền thuốc bình quân đầu người Hình 1.2 : Biểu đồ biểu diễn sự gia tăng bình quân tiền thuốc đầu người của Việt Nam 1.
Cơ cấu thị trường thuốc Sản phẩm thuốc trên thị trường chủ yếu là thuốc generic (chiếm 51,2% năm 2013) và biệt dược (chiếm 22,3% năm 2013). 5 Luan van thac si 100% 90% 26,9 26,7 26,4 80% 70% 60% 23,1 22,7 22,3 50% 40% 30% 50 50,6 51,2 20% 10% 0% 2011 2012 2013 Năm Thuốc generic Biệt dược Thuốc khác Hình 1.3: Cơ cấu loại thuốc trên thị trường Việt Nam năm 2013 100% 90% 27,2 26,9 26,7 80% 70% 60% 50% 40% 72,8 73,1 73,3 30% 20% 10% 0% 2010 2011 2012 Năm ETC OTC Hình 1.4: Cơ cấu kênh phân phối thuốc trên thị trường năm 2010-2012 Việc tiêu thụ các loại thuốc tại thị trường Việt Nam hiện nay cũng theo xu hướng chung của các nước đang phát triển, đó là điều trị các bệnh liên quan đến chuyển hóa và dinh dưỡng chiếm tỷ lệ nhiều nhất (20% năm 2013). [10][11] 6 Luan van thac si 18% 20% Chuyển hóa, dinh dưỡng Nhiễm trùng hệ thống 3% Tim mạch 3% Hô hấp Thần kinh TW 12% 19% Cơ, xương, khớp Ung thư 9% Khác 16% Hình 1.5: Cơ cấu doanh thu thuốc theo bệnh ở Việt Nam năm 2013 1. Tình hình xuất nhập khẩu dược phẩm Tân dược Ngành dược Việt Nam chịu sự cạnh tranh rất lớn từ những nhãn thuốc và dược phẩm nước ngoài.
Tính đến 2013, các doanh nghiệp nội mới chỉ sản xuất được 50% nhu cầu trong nước, nhưng lượng tiêu thụ thì chỉ dừng ở 38%, theo điều tra của Bộ Y tế. Phần còn lại là thuộc về các nhãn hiệu nước ngoài. Trong gần 2,000 hoạt chất thuốc đăng kí ở Việt Nam, thì hơn 1,000 là của công ty nước ngoài, trong khi thuốc nội chỉ đăng kí 500 hoạt chất, tập trung ở các loại như thuốc hạ nhiệt, giảm đau, vitamin và thuốc bổ. [11] [17] Năm 2008 tốc độ tăng trưởng của thị trường thuốc sản xuất trong nước đạt bình quân 25,46% so với mức tăng bình quân 33% của thuốc nhập khẩu [11] [17] Tổng giá trị nhập khẩu thuốc năm 2013 là trên 1,8 tỉ USD, trong khi năm 2008 con số này mới chỉ là 864 triệu USD, tốc độ tăng hằng năm trong giai đoạn 2008-2013 là 18%.
[11][17] 7 Luan van thac si Triệu USD 2000 1800 1880 1790 1600 1400 1483 1200 1243 1000 1097 800 864 600 400 200 0 2008 2009 2010 2011 2012 2013 Năm Giá trị nhập khẩu thuốc Hình 1.6: Giá trị nhập khẩu thuốc của Việt Nam từ 2008-2013 Việt Nam nhập khẩu dược phẩm chủ yếu từ Pháp, Ấn Độ và Hàn Quốc. Ưu điểm của các thuốc từ Pháp là có dòng thuốc ổn định, ít khi bị làm giả. Về phần các thuốc Ấn Độ, do có giá lao động rẻ, nguồn nguyên liệu phong phú, nên dược phẩm Ấn Độ có tính cạnh tranh về giá cả mạnh đối với chúng ta. 13% Pháp Ấn Độ 31% Hàn Quốc 13% Đức Thụy Sĩ Ý Anh 9% 3% Bỉ 4% Mỹ 4% 8% Thái Lan 4% 6% 5% Khác Hình 1.7: Thị trường nhập khẩu thuốc của Việt Nam năm 2013 8 Luan van thac si 90% nguyên dược liệu nhập từ nước ngoài.
Việc phụ thuộc quá nhiều vào nguyên dược liệu nước ngoài khiến cho ngành gặp rất nhiều rủi ro về tỷ giá, thanh toán tín dụng cũng như về cung cầu trên thị trường nguyên dược liệu. Theo Bộ Thống Kê, giá nguyên dược liệu tăng qua các năm. Chủ yếu, giá nguyên liệu tăng là do sự giảm giá của VND so với USD. Phần lớn, nguyên dược liệu nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc, và Ấn Độ.2: Cơ cấu nhập khẩu nguyên phụ liệu theo quốc gia năm 2013 Giá trị Giá trị Quốc gia Quốc gia (triệu USD) (triệu USD) Trung Quốc 160,4 Pháp 6,3 Ấn Độ 50,8 Hàn Quốc 4,3 Áo 19,3 Thụy Sĩ 4,3 Tây Ban Nha 14,2 Anh 3,4 Đức 8,9 Nhật 0,9 Ý 6,6 1,59 1,21 0,35 Trung Quốc 1,56 3,37 2,42 2,28 Ấn Độ 4,95 Áo 7,03 Tây Ban Nha Đức 57,27 17,97 Pháp Ý Thụy Sĩ Hàn Quốc Anh Nhật Hình 1.8 : Biểu đồ biểu diễn cơ cấu nhập khẩu nguyên phụ liệu năm 2013 9 Luan van thac si Đông dược Nguồn nguyên liệu cho công nghiệp đông dược được thu góp từ trong nước thay vì nhập khẩu như tân dược.
Với hơn 4,000 loài thảo dược, Việt Nam đứng thứ ba thế giới về đa dạng sinh học. Hơn nữa, tỉ lệ sử dụng đông dược ngày càng tăng, và theo dự báo của bộ Y tế, con số này sẽ tăng lên 30% trong vòng 5 năm tới. Vì vậy, đông dược là phân ngành đầy tiềm năng, giảm bớt sự phụ thuộc vào nhập khẩu của ngành dược phẩm nói chung.