Chương 1. HOẠT ĐỘNG TỒN TRỮ, CẤP PHÁT THUỐC TRONG BỆNH VIỆN Cung ứng thuốc là quá trình đưa thuốc từ nơi sản xuất đến người sử dụng. Cung ứng thuốc trong bệnh viện là đáp ứng nhu cầu điều trị hợp lý của bệnh viện và là một nhiệm vụ quan trọng nhất trong công tác dược bệnh viện của Khoa Dược. Chu trình cung ứng thuốc được mô tả ở sơ đồ [1], [38]: Lựa chọn Thông tin Sử dụng Hoạt động Mua quản lý Nhân lực Sắm Tổ chức Tài chính Tồn trữ, Cấp phát Hình 1.1: Chu trình cung ứng thuốc Bốn bước trong chu trình cung ứng có quan hệ mật thiết hữu cơ với nhau, trong đó lựa chọn là bước đầu tiên, tạo tiền đề để hoạt động mua sắm, tồn trữ cấp phát đạt hiệu quả, sử dụng là bước cuối cùng của chu trình đồng thời là cơ sở quan trọng cho bước lựa chọn ở chu kỳ tiếp theo.
Trong chu trình cung ứng thuốc, tồn trữ và cấp phát thuốc là những khâu quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến tính sẵn có và chất lượng của thuốc, qua đó ảnh hưởng đến chất lượng của công tác cung ứng thuốc. Tồn trữ thuốc Tồn trữ (storage): bao gồm các quá trình xuất nhập kho, quá trình kiểm tra, kiểm kê, dự trữ và các biện pháp kỹ thuật bảo quản hàng hoá. Trong bệnh viện, công tác tồn trữ là một trong những mắt xích quan trọng đảm bảo việc cung cấp thuốc với chất lượng tốt nhất và kịp thời nhất cho công tác điều trị [2]. 3 Luan van thac si 1.
Quá trình nhập – xuất kho Thực hiện tốt công tác tiếp nhận thuốc trong kho có ý nghĩa quan trọng trong việc kiểm soát chất lượng thuốc cung ứng, hạn chế tình trạng mất mát, thiếu hụt thuốc khi giao nhận. Thuốc trước khi nhập kho được kiểm tra, đối chiếu với các tài liệu chứng từ liên quan về chủng loại, số lượng, và các thông tin khác ghi trên nhãn như tên thuốc, nhà sản xuất, nhà cung cấp, số lô, hạn dùng. Xuất kho là khâu kết thúc quá trình nghiệp vụ kho, xuất hàng nhanh gọn, chính xác, an toàn góp phần tiết kiệm chi phí kho, nâng cao chất lượng cung ứng thuốc. Thuốc xuất kho phải đạt tiêu chuẩn chất lượng, còn trong hạn sử dụng, phải có phiếu xuất và phiếu lĩnh thuốc hợp lệ, chỉ được xuất kho theo đúng tên thuốc, số lượng và quy cách ghi trong phiếu xuất [2].
Các biện pháp kỹ thuật bảo quản hàng hóa Về nguyên tắc các điều kiện bảo quản phải là điều kiện ghi trên nhãn thuốc. Theo quy định của Tổ chức Y tế thế giới, điều kiện bảo quản bình thường là bảo quản trong điều kiện khô, thoáng, và nhiệt độ từ 15 – 250C hoặc tùy thuộc vào điều kiện khí hậu, nhiệt độ có thể lên đến 300C. Phải tránh ánh sáng trực tiếp gay gắt, mùi từ bên ngoài vào và các dấu hiệu ô nhiễm khác [5], [8]. Nhiệt độ: Nhiệt độ phòng: Nhiệt độ trong khoảng 15 - 250C, trong từng khoảng thời gian nhiệt độ có thể lên đến 300C.
Kho mát: Nhiệt độ trong khoảng 8 - 150C. Kho lạnh: Nhiệt độ không vượt quá 80C. Tủ lạnh: Nhiệt độ trong khoảng 2 - 80C. Kho đông lạnh: Nhiệt độ không vượt quá -100C.
Độ ẩm: Điều kiện bảo quản "khô" được hiểu là độ ẩm tương đối không quá 70%. Để đảm bảo các điều kiện bảo quản thuốc, nhà kho phải đáp ứng các yêu cầu sau: Trang thiết bị: - Có các phương tiện, thiết bị phù hợp: quạt thông gió, hệ thống điều hòa không khí, nhiệt kế, ẩm kế. để đảm bảo các điều kiện bảo quản. 4 Luan van thac si - Có đủ ánh sáng bảo đảm để các hoạt động trong khu vực kho được chính xác và an toàn.
- Có đủ các trang bị, giá, kệ để sắp xếp hàng hoá. Không được để thuốc, nguyên liệu trực tiếp trên nền kho. Khoảng cách giữa các giá kệ, giữa giá kệ với nền kho phải đủ rộng đảm bảo cho việc vệ sinh kho, kiểm tra, đối chiếu, cấp phát và xếp, dỡ hàng hóa. - Có đủ các trang thiết bị, các bản hướng dẫn cần thiết cho công tác phòng chống cháy nổ, như: hệ thống báo cháy tự động, thùng cát, hệ thống nước và vòi nước chữa cháy, các bình khí chữa cháy, hệ thống phòng chữa cháy tự động.
- Có nội quy qui định việc ra vào khu vực kho, và phải có các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn việc ra vào của người không được phép. - Có các qui định và biện pháp để chống sự xâm nhập, phát triển của côn trùng, sâu bọ, loài gặm nhấm. Kiểm tra, kiểm kê, dự trữ Phải định kỳ tiến hành việc đối chiếu thuốc trong kho theo cách so sánh thuốc hiện còn và lượng hàng còn tồn theo phiếu theo dõi xuất nhập thuốc. Trong mọi trường hợp, việc đối chiếu phải được tiến hành khi mỗi lô hàng được sử dụng hết.
Tất cả các sai lệch, thất thoát cần phải được điều tra để tìm ra nguyên nhân do lẫn lộn, cẩu thả hay các vấn đề sai trái khác. Thường xuyên kiểm tra số lô và hạn dùng để đảm bảo nguyên tắc nhập trước - xuất trước hoặc hết hạn trước - xuất trước được tuân thủ, và để phát hiện hàng gần hết hoặc hết hạn dùng [2], [5]. Quản lý hàng dự trữ Kiểm soát dự trữ là hoạt động có ý nghĩa then chốt góp phần xây dựng một hệ thống cấp phát phù hợp với đặc điểm thực tế của các cơ sở điều trị. Xây dựng cơ số dự trữ hợp lý sẽ đảm bảo cung ứng kịp thời cho nhu cầu điều trị, đảm bảo chắc chắn rằng những loại thuốc tối cần, thiết yếu luôn sẵn có mọi thời điểm, tránh tình trạng để thuốc tồn đọng quá nhiều, quá lâu, ảnh hưởng đến công tác bảo quản và tồn đọng một lượng tiền lớn trong điều kiện kinh phí còn hạn hẹp.
5 Luan van thac si Quản lý tốt số liệu dự trữ đòi hỏi nhà quản lý có hệ thống báo cáo sử dụng chính xác, khoa học, dự đoán đúng tình hình tiêu thụ thuốc, đồng thời có kế hoạch đặt hàng hợp lý với nhà cung cấp, giảm thiểu chi phí trong quản lý cấp phát. Xác định lượng dự trữ an toàn Mức dự trữ an toàn là dự trữ để phòng ngừa trở ngại trong vận chuyển, phân phối, thiếu hụt thuốc, vật tư tiêu hao.2: Đồ thị mối quan hệ giữa lượng hàng dự trữ theo thời gian Mức dự trữ an toàn là dự trữ để phòng ngừa trở ngại trong vận chuyển, phân phối, thiếu hụt thuốc, vật tư tiêu hao. Công thức xác định mức dự trữ an toàn [38]: SS= LT x CA Trong đó: SS: Lượng dự trữ an toàn (Safety stock) LT: Thời gian trung bình từ lúc đặt hàng đến lúc nhận được hàng (Lead time) CA: Lượng tiêu thụ trung bình hàng tháng (Average consumption) Mức dự trữ tối đa, mức dự trữ tối thiểu 6 Luan van thac si Các kho có mức dự trữ thuốc tối đa với số lượng vừa đủ thấp nhằm tránh tình trạng dư thừa gây lãng phí và mức dữ trữ thuốc đủ lớn để tránh tình trạng thiếu hụt khi nhu cầu tăng cao và việc nhận hàng xảy ra chậm. Mức dự trữ tối thiểu là số dự trữ an toàn cộng với lượng thuốc,vật tư tiêu hao cần phân phối trong thời gian từ khi đặt mua đến khi nhận.
Công thức tính lượng dự trữ tối đa và tối thiểu [38]: SMIN = LT x CA+ SS SMAX= SMIN+ PP x CA Trong đó CA : Lượng tiêu thụ trung bình hàng tháng LT: Thời gian chờ từ lúc đặt hàng đến lúc đặt hàng đến lúc nhận được hàng PP: Khoảng thời gian giữa 2 lần đặt hàng SS: Lượng dự trữ an toàn Lượng đặt hàng Khi lượng dự trữ nhỏ hơn hoặc bằng mức dự trữ tối thiểu là lúc cần đặt hàng. Lượng đặt hàng được tính bằng công thức [38]: Qo = (SMAX +SB) – (St +So) Trong đó : SMAX: Lượng dự trữ tối đa St: Lượng dự trữ hiện thời So: Lượng hàng đặt nhưng chưa nhận được SB: Lượng hàng đặt lại do không đạt yêu cầu 1. Cấp phát thuốc Công tác cấp phát thuốc (Dispensing) là khâu cuối cùng để thuốc đến tay người bệnh, cấp phát thuốc thường được xem là quy trình đơn giản, thông thường và ít sai sót, tuy nhiên tất cả các nguồn lực tham gia vào công tác cung ứng thuốc có thể bị lãng phí nếu thuốc không đưa được đến đúng bệnh nhân, vì vậy cần xây dựng quy trình cấp phát thuốc khoa học, phù hợp với điều kiện của bệnh viện. Quy trình cấp phát thuốc từ khoa Dược đến khoa lâm sàng và đến bệnh nhân được xây dựng cụ thể dựa trên tính chất, đặc điểm của từng bệnh viện dựa trên nguyên tắc cấp phát kịp thời, thuận tiện [56].
7 Luan van thac si Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện xây dựng quy trình cấp phát càng khoa học bao nhiêu thì khoa lâm sàng và khoa Dược càng chủ động được việc cấp phát bấy nhiêu và hiệu quả công việc càng cao. Chỉ thị 05/2004/CT-BYT ban hành ngày 16/4/2004 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc chấn chỉnh công tác cung ứng, sử dụng thuốc. trong bệnh viện đã nêu rõ: bệnh viện phải tổ chức cấp phát thuốc tới tận khoa lâm sàng Quy trình cấp phát thuốc từ khoa dược đến các khoa lâm sàng và người bệnh phải được xây dựng cụ thể dựa trên tình hình nhân lực của khoa dược, khoa lâm sàng, đảm bảo mọi nguồn lực đã được sử dụng một cách hiệu quả nhất. Quy trình cấp phát tốt phải đảm bảo các điều kiện [4]: Duy trì cung cấp thuốc đều đặn Thuốc luôn được bảo quản đúng điều kiện của nhà sản xuất Giảm thiểu tối đa thuốc kém chất lượng hoặc hết hạn Duy trì chính xác số liệu kiểm kê, đảm bảo dự trữ hợp lý Tránh nhầm lẫn, mất mát 1.
VÀI NÉT VỀ NHÓM THUỐC ĐIỀU TRỊ UNG THƯ 1. Sơ lược về bệnh lý ung thư Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích bởi các tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách vô độ, vô tổ chức, không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển cơ thể, hiện hơn 200 loại ung thư khác nhau trên cơ thể người đã được biết đến, hướng tiến triển của mỗi loại ung thư là khác nhau, trong từng loại bệnh ung thư ở mỗi cá thể cũng có xu hướng tiến triển rất khác nhau [6], [9]. Hiện nay, bốn phương pháp điều trị bệnh ung thư thường dùng là : phẫu thuật, hóa trị liệu, xạ trị và miễn dịch trị liệu.