Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận chung về hoạt động cung ứng dịch vụ logistics hàng không Chương 3: Thực trạng hoạt động cung ứng dịch vụ logistics hàng không tại Công ty TNHH Smart logistics Việt Nam Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất với vấn đề nghiên cứu 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ LOGISTICS HÀNG KHÔNG 2. Tổng quan về logistics và dịch vụ logistics 2. Khái niệm về logistics và dịch vụ logistics Khái niệm về logistics Thuật ngữ logistics được cho là đã xuất hiện từ thời cổ đại, từ trong các cuộc chiến tranh giữa các đế chế Hy Lạp, La Mã với tên gọi là logistikos. Tuy rằng hiện nay nhiều người vẫn chưa rõ logistics là gì, nhưng các hoạt động từ thời xa xưa của ông cha ta như cất giữ và bảo quản lương thực, trao đổi hàng hóa, giao thương đều liên quan đến logistics.
Vào thế kỷ 19, Napoleon đã định nghĩa “Logistics là hoạt động để duy trì lực lượng quân đội” và từ đó, logistics được dịch là “hậu cần”(An Thị Thanh Nhàn và cộng sự, 2018). Sau 2 thế kỷ, khái niệm logistics đã mở rộng sang lĩnh vực kinh tế và trở nên phổ biến, trở thành một yếu tố không thể thiếu trong dòng chảy của giao thương quốc tế. Theo cuốn “Quản trị Logistics kinh doanh” của PGS. TS An Thị Thanh Nhàn và các cộng sự (2018), các khái niệm logistics mới lần lượt xuất hiện theo từng giai đoạn phát triển của kinh tế thế giới, nhưng tất cả chúng đều có điểm chung và đều chỉ ra rằng: “Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, vận chuyển và dự trữ các nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyển cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”.
Theo Council of Supply Chain Management Professionals (CSCMP) – Hiệp hội các chuyên gia quản lý chuỗi cung ứng định nghĩa rằng :“Logistics là một phần của quản lý chuỗi cung ứng, có nhiệm vụ lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng chảy và lưu trữ hiệu quả, hiệu suất của hàng hóa, dịch vụ và thông tin liên quan từ điểm xuất phát đến điểm tiêu thụ. Mục tiêu của logistics là đáp ứng yêu cầu của khách hàng, đảm bảo việc quản lý tài nguyên và thông tin một cách hiệu quả để cung cấp sản phẩm đúng thời gian và với chi phí hợp lý”. Khái niệm dịch vụ logistics Căn cứ theo Điều 233 Luật Thương mại 2005 quy định rằng: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các 5 dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Theo đó, dịch vụ logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động của nhiều ngành nghề với nhiều công đoạn kết nối lại với nhau.
Vai trò của dịch vụ logistics Đối với doanh nghiệp, logistics giúp nâng cao hiệu quả quản lý, tối ưu hóa các chu trình sản xuất, kinh doanh từ khâu đầu vào đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Logistics hỗ trợ sự di chuyển và dòng chảy của nhiều hoạt động nhờ vào sự quản lý hiệu quả, nó tạo thuận lợi trong việc bán hầu hết các loại hàng hóa và dịch vụ. Có thể thấy rằng nếu hàng hóa không đến đúng thời điểm, không đến đúng các vị trí và với các điều kiện mà khách hàng cần thì khách hàng không thể mua chúng, và việc không bán được hàng hóa sẽ làm mọi hoạt động kinh tế trong chuỗi cung ứng bị vô hiệu. Thúc đẩy tính hiệu quả không chỉ trong hoạt động sản xuất mà cả trong hoạt động phân phối giữa các cơ sở sản xuất và từ trung tâm phân phối tới nơi tiêu dùng.
Ngoài ra, dịch vụ logistics còn giúp các doanh nghiệp giảm thiểu chi phí kinh doanh, tiết kiệm và giảm chi phí trong chuỗi cung cấp, tăng cường sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Chi phí dịch vụ logistics bao gồm các chi phí giao thông vận tải, đóng gói, dự trữ, kiểm kê, hành chính và quản lý. Việc kiểm soát tất cả các chi phí này trong chuỗi dịch vụ logistics quốc tế sẽ có lợi ích rất lớn bởi vì giảm chi phí này nghĩa là giảm chi phí đầu vào của các hàng hóa, dịch vụ và giảm những rủi ro trong hoạt động kinh tế giữa các quốc gia, giúp các doanh nghiệp giành được ưu thế trong cạnh tranh, từ đó dẫn đến tăng trưởng thương mại quốc gia. Các doanh nghiệp logistics chuyên nghiệp mang lại hiệu quả cao không chỉ ở chất lượng dịch vụ mà còn tiết kiệm tối đa về thời gian và tiền bạc cho mọi quá trình phân phối vận động trong nền kinh tế.
Đối với nước ta, đặc biệt ở các thành phố lớn, ùn tắc và tai nạn giao thông là các nguyên nhân chính cản trở việc tái cơ cấu, phát triển nhanh và bền vững ở Việt Nam. Ở góc độ quốc gia, dịch vụ logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia. Theo nhiều kết quả nghiên cứu về Logistics ở các hãng sản xuất, trong cơ cấu giá bán sản phẩm, chi phí sản xuất thường chiếm 48%, chi phí marketing chiếm 27%, chi phí logistics 21% còn phần lợi nhuận là 4% (PGS, TS. Trần Minh Tâm, 2023).
Điều này cho thấy chi phí cho logistics là rất lớn. Do đó, với việc hình thành và phát triển dịch vụ logistics sẽ giúp các doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân giảm được chi phí trong chuỗi cung ứng, tinh giản và tối ưu hóa 6 được quy trình sản xuất và gia tăng hiệu quả, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của quốc gia và doanh nghiệp trên thị trường quốc tế. Ở góc độ toàn cầu hóa, logistics giúp mở rộng thị trường thương mại quốc tế, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa hoạt động kinh doanh và vận tải quốc tế đồng thu hút đầu tư và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Trong thời đại toàn cầu hóa, thương mại quốc tế là sự lựa chọn tất yếu cho mọi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế đất nước.
Các giao dịch quốc tế chỉ thực hiện được và mang lại hiệu quả cho quốc gia khi dựa trên một hệ thống logistics tối ưu về chi phí và có chất lượng cao. Hệ thống này giúp cho các dòng hàng hóa được lưu chuyển thuận lợi, suôn sẻ từ quốc gia này đến quốc gia khác nhờ việc cung ứng kịp thời, phân phối chính xác, thông tin rõ ràng, minh bạch. Phân loại dịch vụ logistics Dựa theo quy định tại Điều 3 Nghị định 163/2017/NĐ-CP, dịch vụ logistics được phân thành 17 loại hình sau: 1. Dịch vụ xếp dỡ container, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay.
Dịch vụ kho bãi container thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển. Dịch vụ kho bãi thuộc dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải. Dịch vụ chuyển phát. Dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa.
Dịch vụ đại lý làm thủ tục hải quan (bao gồm cả dịch vụ thông quan). Dịch vụ khác, bao gồm các hoạt động sau: Kiểm tra vận đơn, dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải. Dịch vụ hỗ trợ bán buôn, hỗ trợ bán lẻ bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa và giao hàng. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển.
Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ. Dịch vụ vận tải hàng không.
Dịch vụ vận tải đa phương thức. Dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật. Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác. Các dịch vụ khác do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng thỏa thuận phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Luật thương mại 2005.
Nội dung hoạt động cung ứng dịch vụ logistics hàng không Logistics hàng không là lựa chọn hàng đầu cho các loại mặt hàng giá trị cao, có yêu cầu vận chuyển nhanh và độ an toàn hàng hóa cao. Tuy nhiên, vận hành logistics hàng không có chi phí cố định (sân bay, tàu bay,…) và chi phí biến đổi (phi công, kĩ thuật viên, sửa chữa,…) đều rất cao do cần đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật, nguồn nhân lực đạt chuẩn và chuyên nghiệp. Với ưu thế về tốc độ và tính linh hoạt cao, đáp ứng được các yêu cầu hàng hóa nhưng do chi phí cao, thủ tục kiểm tra, kiểm hóa phức tạp, phụ thuộc vào kết cấu và dung tích chứa của máy bay nên chỉ thích hợp các mặt hàng nhanh hỏng, gọn nhẹ, không cồng kềnh, có giá trị cao như hàng linh kiện, thiết bị điện tử, nông sản tươi, hàng triển lãm, động vật sống. Các thành phần tham gia vào hoạt động cung ứng dịch vụ logistics hàng không Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động kết nối với nhau nên các thành phần tham gia vào việc cung ứng dịch vụ logistics hàng không cũng rất đa dạng.1: Các thành phần tham gia quá trình cung ứng dịch vụ logistics (Nguồn: Tác giả phát triển từ mô hình Các thành phần tham gia quá trình vận chuyển hàng hóa, An Thị Thanh Nhàn và cộng sự (2018)) 8 − Người gửi hàng (Shipper): Là người bán hàng hóa và thường là chủ hàng hay người xuất khẩu, là người có hàng muốn bán và có nhu cầu vận chuyển đến địa điểm nhất định trong khoảng thời gian xác định theo yêu cầu của khách hàng − Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Logistics (Logistics Service Provider): là các doanh nghiệp trực tiếp cung cấp dịch vụ logistics hoặc gián tiếp kết nối các đơn vị có nguồn lực thực hiện một công đoạn hoặc toàn bộ chức năng logistics, bao gồm chuỗi dịch vụ về giao nhận hàng hóa như làm các thủ tục giấy tờ, tổ chức vận tải, đóng gói bao bì, ghi nhãn hiệu, lưu kho, lưu bãi, phân phối hàng hóa tới các đại lý phân phối hoặc nơi tiêu thụ khác nhau, chuẩn bị hàng luôn luôn ở tình trạng sẵn sàng theo yêu cầu của khách hàng.