CHƯƠNG 1 TONG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HIỆU QUA NĂNG LƯỢNG, HIỆU QUA SAN XUẤT VA CÁC YEU TO ANH HUONG DEN PHI HIEU QUA NANG LUONG, HIEU QUA SAN XUAT 1. Tổng quan các nghiên cứu về hiệu quả năng lượng, hiệu qua sản xuất và các nhân tố ảnh hưởng đến phi hiệu quả năng lượng, hiệu quả sản xuất 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Tăng trưởng kinh tế nhanh là mục tiêu của bất kì quốc gia đang phát triển nào, đặc biệt là các quốc gia đang nằm trong nhóm có mức thu nhập bình quân trung bình thấp, bởi vì chỉ có tăng trưởng kinh tế nhanh mới có thé đưa các nền kinh tế này bắt kip với nhóm nước có mức thu nhập trung bình cao và cao, đồng thời bứt phá ra khỏi bẫy thu nhập trung bình. Tuy nhiên, việc tăng trưởng quá nóng không quan tâm đến các van dé về tài nguyên thiên nhiên, môi trường sẽ khiến cho các quốc gia không thể đạt được các mục tiêu về sự phát triển bền vững và thậm chí sẽ bị bỏ lại phía sau trong tương lai.
Sản xuất và tiêu thụ năng lượng là nguyên nhân chính dẫn đến biến đổi khí hậu (Priddle, 2004) và khí CO2 làm biến đổi khí hậu bắt nguồn chính từ hoạt động tiêu thụ năng lượng hóa thạch trong quá trình sản xuất. Giảm thiêu sử dụng nguyên liệu hóa thạch sẽ có thé giảm được vấn đề liên quan đến phát thải CO2. Thế nhưng, trong điều kiện chưa tìm ra được nguồn nguyên liệu thay thế hiệu quả và công nghệ chưa được cải thiện, đặc biệt ở các quốc gia kém và đang phát triển, việc cắt giảm tiêu thụ năng lượng có thê sẽ làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế bị chậm lại (Yu và Choi, 1985) và đây là lý do vì sao các nước khó có thể chấp nhận cắt giảm phát thải khí CO2. Vì vậy, trên thế giới đã có rất nhiều bài nghiên cứu liên quan đến van dé cân bang giữa phát thải CO2 và hiệu quả sản xuất sử dụng nhiều phương pháp tiếp cận khoa học khác nhau và trong đó có phương pháp DEA kết hợp với mô hình hồi quy Tobit để đem đến giải pháp cho các quốc gia điển hình làm bài học cho các quốc gia khác dé chung tay xây dựng một nền kinh tế bền vững trên toàn câu.
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa hiệu quả năng lượng, hiệu quả sản xuất và tăng trưởng kinh tế Mối quan hệ giữa tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải va tăng trưởng kinh tế đã được nghiên cứu trong một thời gian tương đối đài và tập trung ở trên khía cạnh kinh tế môi trường và tăng trưởng kinh tế. Hầu hết các nhà nghiên cứu đã đưa ra một sự kết luận thống nhất rang: “Tăng trudng kinh tế cải thiện cả tong năng lượng tiêu thụ và phát thải cacbon” (Friedl và các cộng sự, 2003; Ang, 2007; Niu và các cộng sự, 2011). Những nghiên tập trung vào phát thải CO2 làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế còn khá nhiều những tranh cãi. Một số kết quả từ những bài nghiên cứu như: Environmental policy, the Porter hypothesis and the composition of capital: Effects of learning and technological progress của Feichtinger và các cộng sự (2005) đã cho kết luận: “Việc giảm thiểu phát thải và tiết kiệm năng lượng sẽ tất yếu dẫn đến việc tăng trưởng kinh tế bị giảm”.
Tuy nhiên, cũng có rất nhiều những bài nghiên cứu đã đưa ra kết luận ngược lại. Shixiong và các cộng sự (2018) đã thực hiện bài nghiên cứu Economic Growth Effect and Optimal Carbon Emissions under Chinas Carbon Emissions Reduction Policy: A Time Substitution DEA Approach. Với tốc độ công nghiệp nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh chóng của Trung Quốc đã khiến cho nhu cầu năng lượng của quốc gia đông dân này tăng lên nhanh chóng, kéo theo đó là những vấn đề về năng lượng và môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng. Để theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững, những bản kế hoạch về sử dụng tiết kiệm năng lượng, giảm thiểu phát thải cần được đưa ra và thực hiện trong thời gian đài.
Đây là vấn đề đặt ra với những nhà hoạch định chính sách của Trung Quốc. Bài nghiên cứu thực hiện đo lường ảnh hưởng của chính sách giảm phát thải CO2 với các mục tiêu giảm khác nhau. Mục tiêu của nhóm nghiên cứu hướng đến là tim ra điểm can bằng tối ưu cho phát triển kinh tế và mức phát thải CO2, tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi “Cái giá mà Trung Quốc phải trả để có thể thực hiện thành công mục tiêu bảo tồn các dang năng lượng và giảm phát thải và mức độ ảnh hưởng của các chính sách giảm thiêu phát thải đối với nền kinh tế dé xác định được mức tăng trưởng kinh tế?” Cùng với đó, nhóm nghiên cứu cũng tiến hành việc đánh giá các nhân tố tiềm ân ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng năng lượng và hiệu quả kinh tế cho mỗi tỉnh thành phố của Trung Quốc. Nhóm tác giả đã thực sử dụng mô hình DEA thay thé thời gian để có thé thay thé mô hình DEA thông thường bất ké có sự xuất hiện của các đầu ra không mong muốn.
Để thực hiện được mô hình này, nhóm nghiên cứu đã thu thập số liệu đầu và đầu ra của 29 tỉnh, thành phố của Trung Quốc trong giai đoạn 1995 - 2005. Trong bài nghiên cứu này, nhóm tác giả đã sử dụng biến tổng năng lượng như là một biến đầu vào bên cạnh các biến lao động và vốn của hàm sản xuất. Và các biến đầu ra được chia ra làm là GDP của các tỉnh thành phố được nhóm tác giả thu thập và được điều chỉnh theo mức GDP của năm 1995 và biến đầu ra không mong muốn là CO2. Số liệu lượng CO2 phát thải do đốt các nhiên liệu hóa thạch được nhóm nghiên cứu tính toán bằng công thức được giới thiệu ở IPCC.
Tổng mức nguyên liệu hóa thạch được tính dựa trên tổng tiêu thụ của 3 loại chủ yếu là: than đá, dầu thô và khí gas. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: không phải tất cả các tỉnh khi thực hiện việc cắt giảm phát thải sẽ làm cho GDP giảm. Thậm chí, với những yêu cầu cắt giảm phát thải CO2 ở một số thành phố nhất định còn đem đến những thành tựu trong việc vừa tăng trưởng kinh tế vừa đảm bảo giảm phát thải CO2 ví dụ như thành phố Thiên Tân, Vân Nam hay An Huy, nếu như họ quyết định phân bổ lại sản xuất theo thời gian. Bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những tỉnh thành phố có hiệu quả môi trường cao hon, cao trên mỗi GDP/dau người và cường độ sử dụng năng lượng thấp hơn so với mức hiệu quả có thể sẽ phải mất một lượng GDP khá lớn.
Một số bài nghiên cứu cũng đưa ra những kết quả tích cực tương tự trong việc sử dụng hiệu quả nhiên liệu cũng như mối quan hệ với sự tăng trưởng kinh tế. Trong bài nghiên cứu cua Godard (2006) The Economics of Climate Change: The Stern Review cũng đã chỉ ra GDP của toàn cau có thé sẽ bị giảm từ 5 - 20% bởi những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu gây ra nếu như không có những nỗ lực để giảm thiểu sự phát thải. Nghiên cứu cua Chen (2001) The impact of mitigating CO2 emissions on Taiwan 10 economy cũng có kết luận tương tự răng: nếu như phát thải CO2 của Taiwan không được cắt giảm so với mức phát thải năm 1990 thì GDP của Taiwan sẽ bị giảm 34%. Kết luận của các bài nghiên cứu này đã tạo ra sự khuyến khích lan tỏa những hành động thiết thực ngay lập tức để giảm phát thải khí nhà kính từ 30 - 70% trong vòng 20 năm.
Ang và các cộng sự (2008) cũng đã đưa kết luận cho bài nghiên cứu Economic development, pollutant emissions and energy consumption in Malaysia rang: Bảo tồn năng lượng, giảm phát thải không đồng nghĩa với việc mức độ tăng trưởng kinh tế bị giảm va thậm chí còn là một mô hình tiềm năng cho mô hình phát triển cân bang win - win. Ngoài ra, còn một số các bài nghiên cứu khác của Heil and Selden (2001) Carbon emissions and economic development: Future trajectories based on historical experience; Jaffe va các cộng su (2005) A tale of two market failures: Technology and environmental policy,.cũng có những kết luận tương tự. Bài nghiên cứu A causal relationship between energy consumption and economic growth in Nepal cua tác giả Dhungel (2008). Bài nghiên cứu thực hiện nhằm nỗ lực dé có thé đánh giá mối quan hệ nhân quả giữa tổng mức tiêu thụ thương mại (TCEC) và GDP thực tế, xem xét nguyên nhân mối quan hệ giữa mức tiêu thụ than, điện, dầu bình quân đầu người và tổng năng lượng điện thương mại; GDP thực thông qua mô hình đồng tích hợp và sửa lỗi vectơ.
Để thực hiện nghiên cứu này, tác giả đã thử chuỗi thời gian với ADF test. Qua kiếm định ADF cho thấy tất cả 5 xem xét gồm: tổng tiêu thụ than đá, tổng tiêu thụ điện, tổng tiêu thụ dầu, TCEC va GDP thực đều không có sự ổn định. Tuy nhiên tất cả các biến ngoại trừ biến GDP thực dừng ở bậc I(2) thì tat cả các biến còn lại đều dừng ở bậc I(1). Tiếp theo đó, tác giả đã tiến hành kiểm định đồng tích hợp dé chỉ ra rằng có sự tồn tại của một vectơ đồng tích hợp hoặc mối quan hệ dài hạn giữa các biến trong giai đoạn mẫu trong giai đoạn nghiên cứu.
Khi giá trị kiểm định được tính toán, một giả định về xu hướng tuyến tính được đưa ra với độ trễ được xác định là lag 3. Theo tỉ lệ khả năng xảy ra và giá trị thống kê Eigen tối đa thì có thể kết luận tiêu thụ than bình quân đầu người và GDP, tiêu thụ điện và GDP, tiêu thụ dầu và GDP và chuỗi TCEC và 11 GDP được đồng tích hop với nhau. Vi vay, mối quan hệ cân bằng lâu đài giữa các chuỗi này được đồng tích hợp. Kết quả của mối quan hệ nhân quả Granger giữa mức tiêu thụ than bình quân đầu người,tiêu thụ điện, tiêu thụ dầu và TCEC và GDP thực tế bình quân đầu người, như cũng như các giá trị F được tính toán và xác suất tương ứng của chúng đối với dữ liệu trong giai đoạn 1980 - 2004 với thời gian trễ cụ thể.
Mối quan hệ nhân quả Granger đã được tìm thấy là từ mức tiêu thụ than bình quân đầu người đến GDP thực tế bình quân đầu người và không ghi nhận có mối quan hệ nhân quả GDP thực tế bình quân đầu người không gây ra đối với than bình quân đầu người.