CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng. Khái niệm liên quan đến tín dụng và hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng Tín dụng là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định. Hiệu quả hoạt động tín dụng là một trong những biểu hiện của hiệu quả kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng, nó phản ánh chất lượng của các hoạt động tín dụng ngân hàng.
Đó là khả năng cung ứng tín dụng phù hợp với yêu cầu phát triển của các mục tiêu kinh tế xã hội và nhu cầu của khách hàng, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả nợ vay đúng hạn, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng thương mại từ nguồn tích lũy do đầu tư tín dụng và do đạt được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Trên cơ sở đó đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của ngân hàng. Vì vậy, hiệu quả tín dụng là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh khả năng thích nghi của tín dụng ngân hàng với sự thay đổi của các nhân tố chủ quan (khả năng quản lý, trình độ của cán bộ quản lý,…), nhân tố khách quan (mức độ an toàn vốn tín dụng, lợi nhuận của khách hàng, sự phát triển kinh tế xã hội,. Do đó, hiệu quả tín dụng là kết quả của mối quan hệ biện chứng giữa ngân hàng, khách hàng vay vốn và nền kinh tế xã hội, cho nên khi đánh giá hiệu quả tín dụng cần phải xem xét cả ba phía là ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng. Có rất nhiều chỉ tiều để đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại, trong đó có các chỉ tiêu sau: - Tỷ lệ dư nợ trên nguồn vốn huy động: Chỉ tiêu này giúp so sánh khả năng cho vay của ngân hàng với khả năng huy động vốn, đồng thời xác định hiệu quả của một đồng vốn huy động. Chỉ tiêu này lớn thể hiện khả năng tranh thủ huy động, nếu chỉ tiêu này lớn hơn 1 thì cho thấy ngân hàng chưa thực hiện tốt việc huy động vốn, 2 huy động tham gia cho vay ít, còn nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 thì ngân hàng chưa sử dụng hiệu quả toàn bộ nguồn vốn huy động, gây lãng phí. Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau: Tỷ lệ dư nợ/ vốn huy động (%) Tổng dư nợ = x 100 Tổng vốn huy động - Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ: Chỉ tiêu này được dùng so sánh sự tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm để đánh giá khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tín dụng của ngân hàng.
Chỉ tiêu càng cao phù hợp với nội lực thì mức độ hoạt động của ngân hàng càng ổn định và có hiệu quả, ngược lại ngân hàng đang gặp nhiều khó khăn. Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau: Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ(%) (Dư nợ năm nay –Dư nợ năm trước) = x 100 Dư nợ năm trước - Tỷ lệ nợ quá hạn: Là chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng tại Ngân hàng. Nếu tại một thời điểm nào đó mà tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ càng cao thì chứng tỏ hoạt động tín dụng càng kém hiệu quả và ngược lại nếu tỷ lệ này càng thấp thìhoạt động tín dụng của Ngân hàng càng hiệu quả hơn.Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau: T Tỷ lệ nợ quá hạn (%) Nợ quá hạn = x 100 Tổng dư nợ - Tỷ lệ nợ xấu: Chỉ tiêu này để phân tích thực chất tình hình chất lượng tín dụng của ngân hàng. Tổng nợ xấu của ngân hàng bao gồm nợ quá hạn, nợ khoanh, nợ quá hạn chuyển về nợ trong hạn.
Vì vậy, chỉ tiêu này còn phản ánh khả năng quản lý tín dụng của ngân hàng trong việc cho vay và thu hồi nợ. Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau: T Tỷ lệ nợ xấu (%) Tổng nợ xấu = x 100 Tổng dư nợ 3 - Kết cấu dư nợ: Phản ánh tỷ trọng của các loại dư nợ trong tổng dư nợ. Phân tích kết cấu dư nợ sẽ giúp ngân hàng cần đẩy mạnh cho vay theo loại hình nào để cân đối với thực lực của ngân hàng. Chỉ tiêu này tính theo công thức sau: Tỷ trọng từng loại cho vay (%) Dư nợ từng loại cho vay = x 100 Tổng dư nợ 1.Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng 1.Đối với ngân hàng Hiệu quả tín dụng làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ của các NHTM do tạo thêm nguồn vốn từ việc tăng được vòng quay vốn tín dụng và thu hút thêm được nhiều khách hàng bới các hình thức của sản phẩm, dịch vụ, tạo ra một hình ảnh tốt về biểu tượng và uy tín của ngân hàng cùng với sự trung thành của khách hàng.
Hiệu quả hoạt động tín dụng tạo thuận lợi cho sự tồn tại lâu dài của ngân hàng, bởi vì chất lượng tín dụng cho phép ngân hàng có những khách hàng trung thành và những khoản lợi nhuận bổ sung đầu tư. Hiệu quả tín dụng mang lại mối quan hệ xã hội của ngân hàng, điều đó cũng có ý nghĩa là tạo được môi trường thuận lợi nhất cho hoạt động ngân hàng. Với những ưu thế trên, việc củng cố và nâng cao hiệu quả tín dụng của NHTM là sự cần thiết khách quan vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của NHTM. Cũng chính vì vậy, hiệu quả hoạt động tín dụng luôn phải là mục tiêu hàng đầu và luôn được cải tiến.Đối với kinh tế Nâng cao hiệu quảhoạt động tín dụng là vấn đề ngày càng được quan tâm vì: - Nâng cao hiệu quả tín dụng để đưa hoạt động tín dụng thích nghi với điều kiện kinh tế thị trường, phục vụ và thúc đẩy nền kinh tế thị trường.
- Đảm bảo chất lượng tín dụng là điều kiện để ngân hàng làm tốt chức năng trung tâm thanh toán, vì khi chất lượng tín dụng được đảm bảo sẽ tăng vòng quay tín dụng. 4 Nó tạo điều kiện cho ngân hàng làm tốt chức năng trung tâm tín dụng trong nền kinh tế quốc dân là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, tín dụng góp phần điều hòa vốn trong nền kinh tế. - Góp phần tăng vòng quay vốn, huy động tới mức tối đa lượng tiền nhàn rỗi trong xã hội để phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. - Làm giảm tối tiểu lượng tiền thừa trong lưu thông.
Nó góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế, tăng uy tín quốc gia. Đồng thời, thông qua các công trình đầu tư vốn phát huy tác dụng, tạo ra những sản phẩm, dịch vụ cho nền kinh tế. - Tạo điều kiện áp dụng công nghệ hiện đại vào hoạt động ngân hàng theo xu hướng của thế giới, hội nhập với hệ thống tiền tệ quốc gia -Nâng cao chất lượng tín dụng để có khả năng hợp tác cạnh tranh Tín dụng là một trong những công cụ để thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội theo từng ngành, từng lĩnh vực. Nâng cao hiệu quả tín dụng sẽ góp phần tăng hiệu quả sản xuất xã hội, đảm bảo phát triển cân đối giữa các ngành, các vùng trong cả nước, ổn định và phát triển nền kinh tế.
Tín dụng có mối quan hệ mật thiết với nền kinh tế xã hội. Để có hiệu quả tín dụng, ngoài sự nỗ lực của bản thân các NHTM, đòi hỏi nền kinh tế phải ổn định và phải có một cơ chế, chính sách phù hợp.Sự kết hợp nhịp nhàng có hiệu quả giữa các cấp, các ngành tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động tín dụng 1.Đối với người vay Hoạt động tín dụng thường mang theo những rủi ro nhất định và người chịu thiệt hại nhiều nhất khi rủi ro tín dụng xãy ra chính là ngân hàng. Khi đó ngân hàng sẽ đối mặt với nguy cơ bị mất vốn. Do đó, việc nâng cao hiệu quả tín dụng trước mắt là giúp ngân hàng đảm bảo nguồn vốn cấp tín dụng của mình không thể bị mất đi, từ đó tránh khả năng bị mất thanh toán.
Khi đó, ngân hàng có thể đáp ứng kịp thời và đầy đủ nhu cầu vay vốn cho khách hàng với thời gian và lãi suất hợp lý. Điều này sẽ giúp cho khách hàng có cơ hội thay đổi cơ chế kinh doanh, mở rộng hoạt động sản xuất, làm tăng doanh thu, tăng lợi nhuận. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng Như phân tích ở trên, hiệu quả tín dụng là mối quan hệ biện chứng của 3 nhân tố chính là ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế. Nhân tố ngân hàng -Thứ nhất, chiến lược kinh doanh.
Đây là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng. Chiến lược kinh doanh liên quan đến khả năng cạnh tranh thành công trên thị trường. Nó liên quan đến các quyết định chiến lược về lựa chọn sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, giành lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ, khai thác và tạo ra các cơ hội mới… Dựa trên cơ sở một chiến lược kinh doanh được xác lập, ngân hàng sẽ chuyển nó thành hành động, lập ra những kế hoạch bộ phận cho từng thời kỳ đảm bảo cho những mục tiêu đã đề ra; đặc biệt có kế hoạch ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả cho vay như: kế hoạch tăng trưởng tín dụng, kế hoạch marketing, chính sách nhân sự… - Thứ hai, các chính sách, quy định của ngân hàng. Đó là chính sách chăm sóc khách hàng trước và sau khi cho vay có chu kỳ đáo hay không; Các quy định về lãi suất và phí tín dụng cao hay thấp, có linh hoạt và phù hợp với thu nhập hiện có của người dân hay không; Các quy định về thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ, tài sản đảm bảo, phương thức giải ngân và thanh toán, thủ tục xin vay vốn có phức tạp hay đơn giản, thời gian thẩm định hồ sơ vay vốn kéo dài bao lâu… - Thứ ba, chất lượng cán bộ tín dụng.
Cán bộ tín dụng là người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, tiếp nhận hồ sơ, hướng dẫn khách hàng các thủ tục vay vốn, thực hiện thu thập và xử lý thông tin về khách hàng để đưa ra quyết định cho vay hay không cho vay, cũng như là người thực hiện giám sát sau khi cho vay và thu nợ.