CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm Hiệu quả được hiểu là “Mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào khan hiếm với đầu ra hàng hoá và dịch vụ, có thể được đo lường theo hiện vật gọi là hiệu quả kỹ thuật hoặc theo chi phí thì được gọi là hiệu quả kinh tế. Khái niệm hiệu quả kinh tế được dùng như một tiêu chuẩn để xem xét các tài nguyên được thị trường phân phối như thế nào” (Từ điển thuật ngữ Kinh tế học, trang 224-NXB Từ điển Bách Khoa Hà Nội 2001).
Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh sử dụng các nguồn lực sẵn có của đơn vị cũng như của nền kinh tế để thực hiện mục tiêu đặt ra. Nó không chỉ là thước đo chất lượng phản ánh thực trạng tổ chức quản lý kinh doanh của một doanh nghiệp, mà còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Hiệu quả của doanh nghiệp được xem xét một cách tổng thể bao gồm nhiều hoạt động. Hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động tài chính có mối quan hệ qua lại, do đó khi phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cần phải xem xét hiệu quả của hai hoạt động này, bởi lẽ một doanh nghiệp có thể có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng lại không có hiệu quả trong hoạt động tài chính hoặc hiệu quả hoạt động tài chính thấp đó là do các chính sách tài trợ không phù hợp với tình hình chung của doanh nghiệp.
Khi hoạt động trong nền kinh tế thị trường thì bản thân mỗi doanh nghiệp có một hướng phát triển riêng trong từng giai đoạn cụ thể của mình. Mục tiêu cuối cùng của mỗi doanh nghiệp là lợi nhuận và phát triển lâu dài. Luan van 9 Các mục tiêu này luôn gắn liền với mục tiêu thị phần. Vì vậy khi đánh giá hiệu quả thì hai yếu tố quan trọng cần phải xem xét là doanh thu và chi phí.
Theo quan điểm trên thì chỉ tiêu phân tích về hiệu quả cơ bản được tính như sau: Kết quả đầu ra Hiệu quả hoạt động = Chi phí đầu vào Trong đó: + Kết quả đầu ra là các yếu tố liên quan đến Giá trị sản xuất, Doanh thu, Lợi nhuận… + Chi phí đầu vào là các yếu tố như vốn sở hữu, tài sản,các loại tài sản…. Do số liệu để tính toán hiệu quả có thể là số liệu của một thời kỳ hoặc số liệu tại một thời điểm nên phải có sự phù hợp về thời kỳ giữa số liệu đầu vào và đầu ra. Nguyên tắc này loại bỏ sự biến động mang tính thời vụ do đặc thù kinh doanh của từng doanh nghiệp. Trong trường hợp không có số liệu bình quân thì có thể sử dụng số liệu tại một thời điểm để phân tích.
Số bình quân là số trung bình của cả một thời kỳ, trong một số trường hợp khi phân tích cần phải sử dụng số bình quân thì số liệu tính toán sẽ chính xác hơn. Nếu như số liệu trong một kỳ có sự biến động lớn hoặc khi tính toán các chỉ tiêu mà có liên quan đến lợi nhuận, doanh thu hay chi phí thì nên sử dụng số bình quân sẽ chính xác hơn vì số liệu của các chỉ tiêu này liên quan đến một thời kỳ. Nếu ta sử dụng số thời điểm để tính các chỉ tiêu liên quan đến doanh thu, chi phí, lợi nhuận thì số liệu không chính xác, ví dụ như tính các tỷ suất: hiệu suất sử dụng tài sản, TSCĐ, tỷ suất sinh lời tài sản, tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu… Tuy nhiên một số chỉ tiêu ta chỉ cần sử dụng số thời điểm như Tỷ suất nợ, các tỷ suất phân tích cấu trúc vốn… Ưu điểm của việc sử dụng số bình Luan van 10 quân trong phân tích cho ta số liệu tính toán chính xác hơn, nhưng số liệu tính toán nhiều, khó thu thập. Còn việc srư dụng số dư thời điểm thì có ưu điểm là số liệu thu thập dễ, đơn giản trong tính toán, tuy nhiên độ chính xác không cao.
Phân loại hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Hiệu quả là một phạm trù lớn mang tính tổng hợp vì vậy trong việc tiếp cận, phân tích và đánh giá chỉ tiêu này cần nhận thức rõ về tính đa dạng các chỉ tiêu hiệu quả và phân loại các chỉ tiêu hiệu quả. Có các cách phân loại hiệu quả hoạt động như sau: * Phân theo mức độ tổng hợp hay chi tiết: - Hiệu quả tổng hợp: Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp kinh doanh là thu được lợi nhuận cao. Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp cũng là thước đo đánh giá hiệu quả đã đạt được. Vì vậy, hiệu quả tổng hợp cũng được thể hiện ở số lợi nhuận doanh nghiệp thu được trong kỳ và mức sinh lời của một đồng vốn kinh doanh.
Nói cách khác, lợi nhuận thể hiện kết quả tổng thể của quá trình phối hợp tổ chức đảm bảo kinh doanh của doanh nghiệp. - Hiệu quả chi tiết: Để có thể xem xét đánh giá một cách chính xác hiệu quả này, người ta xây dựng các chỉ tiêu chi tiết cho từng yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh trên cơ sở so sánh từng loại phương tiện, từng nguồn lực với kết quả đạt được. Các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả này đối với từng loại phương tiện khác nhau thường được sử dụng với nhiều tên gọi như: hiệu suất, năng suất, tỷ suất…… * Phân theo mối quan hệ với các chính sách tài trợ: - Hiệu quả kinh doanh: là công cụ quản trị kinh doanh, không những cho biết trình độ sản xuất mà còn giúp tìm ra các biện pháp tăng kết quả và giảm chi phí kinh doanh, nhằm nâng cao hiệu quả. Luan van 11 - Hiệu quả tài chính: còn được gọi là hiệu quả sản xuất kinh doanh hay hiệu quả doanh nghiệp, là hiệu quả kinh tế xét trong phạm vi một doanh nghiệp.
Hiệu quả tài chính phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được lợi ích kinh tế. * Phân theo mối quan hệ với cộng đồng kinh doanh: - Hiệu quả kinh tế: là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài liệu, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu đề ra. - Hiệu quả xã hội: phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định, đó là giải quyết công ăn việc làm trong phạm vi toàn xã hội hoặc từng khu vực kinh tế, giảm số người thất nghiệp, nâng cao trình độ lành nghề, cải thiện đời sống văn hóa, tinh thần cho người lao động, đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động, nâng cao mức sống cho các tầng lớp nhân dân. NGUỒN SỐ LIỆU DÙNG PHÂN TÍCH Có 2 nguồn thông tin chính được sử dụng trong phân tích hiệu quả doanh nghiệp: thông tin từ các BCTC - các báo cáo chi tiết và nguồn thông tin khác 1.
Nguồn thông tin từ các BCTC và các báo cáo chi tiết Hệ thống báo cáo tài chính Bảng cân đối kế toán phản ánh cơ cấu và tình hình tài chính của DN; là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp dưới hình thái tiền tệ tại một thời điểm nhất định thường là cuối tháng, cuối quý hoặc cuối năm. Về bản chất bảng cân đối kế toán là một bảng cân đối tổng hợp giữa tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Bảng cân đối kế toán cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp. Như vậy, thông tin trên bảng cân đối kế toán thể hiện các nguồn lực tài chính mà đơn vị sử dụng Luan van 12 cho hoạt động kinh doanh.
Sử dụng từ loại nguồn lực phù hợp cho phép đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp trên các chỉ tiêu tài chính thuận lợi nhất. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp cung cấp thông tin về doanh thu, chi phí tạo ra doanh thu, thu nhập và kết quả kinh doanh của một kỳ kế toán. Như vậy, thông tin trên Báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh kết quả của đơn vị theo nhiều khía cạnh: doanh thu, lợi nhuận theo từng hoạt động. Nó là nguồn thông tin quan trọng cho việc xem xét thực trạng tài chính và đánh giá khả năng sinh lợi của doanh nghiệp trong thời gian qua cũng như trong thời gian sắp đến để từ đó có những quyết định phù hợp, cần thiết.
Khi phân tích việc tính toán các tỷ số khả năng sinh lời rất hữu ích khi xem xét báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, vì chúng thể hiện lợi tức mà DN kiếm được so với các yếu tố khả biến như tổng tài sản, doanh thu, vốn CSH; và các tỷ số bù đắp, đo lường khả năng trả lãi. Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp, được lập để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các báo cáo khác không thể trình bày rõ ràng và chi tiết. Số liệu trên thuyết minh là cơ sở để người đọc hiểu chi tiết hơn các nguồn lực, các kết quả tài chính mà hai báo cáo trên chưa đề cập. Đặc biệt, thông tin về các chính sách kế toán còn giúp người đọc, người phân tích hiểu rõ hơn tác động của chính sách kế toán đối với từng chỉ tiêu tài chính.
Các báo cáo chi tiết khác (báo cáo kế toán quản trị): Nguồn thông tin sử dụng để phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp không chỉ giới hạn trong phạm vi báo cáo tài chính mà còn phải mở rộng sang các báo cáo chi tiết khác như: bảng chi tiết về lãi lỗ tiêu thụ, tình Luan van 13 hình tăng giảm tài sản cố định của doanh nghiệp, các tài liệu khác về giá trị sản xuất và số lượng sản phẩm tiêu thụ. Ngoài ra khi phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ta cần phải có thông tin về số liệu chi phí lãi vay, chi phí khả biến và bất biến trong các yếu tố chi phí sản xuất kinh doanh… Tất cả những thông tin số liệu trên cần phải lấy từ các báo cáo chi tiết tại doanh nghiệp 1.