Chương 1: Cơ sở lý thuyết về hành vi quản trị lợi nhuận Chương 2: Thiết kế nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và hàm ý chính sách 7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Quản trị lợi nhuận và sự can thiệp có chủ đích trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt đƣợc những mục đích cá nhân, phản ánh hành động của nhà quản trị trong việc lựa chọn các phƣơng pháp kế toán mang lại lợi ích và tăng giá trị thị trƣờng của doanh nghiệp. Động cơ quản trị lợi nhuận chủ yếu là chế độ lƣơng thƣởng của nhà quản trị, thu hút nguồn tài trợ và tối thiểu chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp…Do đó các nhà quản trị sẽ tận dụng mọi cơ hội để quản trị lợi nhuận theo ý muốn. Vì vậy, phân tích hành vi quản Luan van 4 trị lợi nhuận sẽ phần nào giúp cho các đối tƣợng sử dụng thông tin đánh giá khách quan hơn tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về quản trị lợi nhuận bằng nhiều mô hình nhƣ: mô hình của Healy (1985), mô hình DeAngelo (1986), mô hình Jones (1991), mô hình Jones điều chỉnh (1995)… [19] Tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu lý thuyết về quản trị lợi nhuận nhƣ: „‟Kế toán theo cơ sở dồn tích và hành vi quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp‟‟ (2009)“Về tính trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận” (2007) của PGS. TS Nguyễn Công Phƣơng. Các nghiên cứu này đã cung cấp cơ sở lý thuyết cho các nghiên cứu về việc vận dụng chính sách kế toán nhằm điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn của nhà quản trị. Bên cạnh đó, Tác giả cũng tổng hợp các nghiên cứu có liên quan về mô hình nghiên cứu quản trị lợi nhuận trên thế giới, qua đó đánh giá những ƣu, nhƣợc điểm của từng mô hình.
[8], [10] Trong bài viết “Hành vi quản trị lợi nhuận đối với thông tin lợi nhuận công bố trên BCTC” của PGS. Đƣờng Nguyễn Hƣng (2013) đã chỉ ra hành vi quản trị lợi nhuận của nhà quản trị thông qua việc vận dụng chính sách kế toán cũng nhƣ mục đích của việc quản trị lợi nhuận. Tuy nhiên bài viết này chỉ giới hạn ở các nghiên cứu lý thuyết chứ chƣa phải là nghiên cứu thực nghiệm, do đó chƣa đƣa ra bằng chứng về hành vi quản trị lợi nhuận của nhà quản trị. [6] Nghiên cứu của tác giả Phan Thị Thùy Dƣơng (2015) đề tài “Sử dụng mô hình Jones để nhận diện điều chỉnh lợi nhuận: trƣờng hợp các công ty niêm yết ở HoSE phát hành thêm cổ phiếu năm 2013” đã vận dung mô hình Modified Jones (1995) để phân tích hành vi quản trị lợi nhuận.
Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ giới hạn ở các công ty niêm yết trên sàn HoSE đối với các công ty phát hành thêm cổ phiếu năm 2013. Hai sàn HoSE và HNX có tiêu chuẩn niêm yết khác nhau do vậy nghiên cứu chỉ có giá trị đối với sàn HoSE. Luan van 5 Bên cạnh đó chƣa nghiên cứu đối với trƣờng hợp các công ty không phát hành thêm cổ phiếu. [5] Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thị Vân (2012) đề tài “Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các công ty cổ phần trong năm đầu tiên niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam” thời gian nghiên cứu từ năm 2008 đến 2010Tác giả sử dụng mô hình DeAngelo và Friedlan để đƣa ra kết luận phần lớn các công ty niêm yết có điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán.
Mô hình DeAngelo và Friedlan có hạn chế là các mô hình này giả định quy mô doanh nghiệp không thay đổi qua 2 năm và năm liền trƣớc không có điều chỉnh lợi nhuận. Nếu vi phạm giả thuyết này thì kết quả nghiên cứu không còn chính xác nữa. [11] Hiện nay có rất ít những nghiên cứu nào đi sâu phân tích hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng Việt Nam, một trong những ngành công nghiệp quan trọng mà các nhà đầu tƣ trong nƣớc cũng nhƣ nƣớc ngoài hết sức quan tâm. Vì vậy dựa trên cở sở lý thuyết về hành vi quản trị lợi nhuận, Tác giả vận dụng mô hình Modified Jones (1995) để nghiên cứu hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng Việt Nam để chứng minh có hành vi quản trị lợi nhuận và phân tích sự khác biệt theo ngành, theo quy mô, theo sàn niêm yết của các công ty thuộc ngành hàng tiêu dùng.
Giải quyết đƣợc các vấn đề trên sẽ giúp cho các đối tƣợng có liên quan có đƣợc thông tin chuẩn xác, đƣa ra các quyết định một cách đúng đắn. Đồng thời, nghiên cứu nhƣ một căn cứ giúp cho các cơ quan Nhà nƣớc, cơ quan kiểm toán có thể kiểm soát tốt hơn hành vi quản trị lợi nhuận để làm sạch thông tin trên BCTC. Luan van 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA NHÀ QUẢN TRỊ 1.
Cơ sở đo lƣờng lợi nhuận kế toán Lợi nhuận kế toán đƣợc đo lƣờng dựa trên các cơ sở, nguyên tắc sau (theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 – VAS 01). [1] - Cơ sở dồn tích: Đây là nguyên tắc cơ bản nhất chi phối các phƣơng pháp kế toán cụ thể trong kế toán doanh nghiệp. Cụ thể, mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải đƣợc ghi nhận vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực thu hoặc thực chi tiền hoặc tƣơng đƣơng tiền. - Hoạt động liên tục: Lợi nhuận kế toán theo nguyên tắc hoạt động liên tục đƣợc xác định căn cứ vào thời kỳ quy định liên quan đến hoạt động trong một khoảng thời gian xác định.
Nói cách khác, lợi nhuận đƣợc xác định trên cơ sở hoạt động liên tục. - Sự phù hợp giữa doanh thu và chi phí: Đó là việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tƣơng ứng liên quan tới việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tạo ra doanh thu không chỉ gồm chi phí của kỳ tạo ra mà còn gồm cả chi phí của các kỳ trƣớc hoặc chi phí phải trả nhƣng có liên quan tới doanh thu của kỳ đó.
- Nguyên tắc thận trọng kế toán: Nguyên tắc này áp dụng khi xem xét, cân nhắc, phán đoán để lập các ƣớc tính kế toán trong điều kiện không chắc chắn. Nội dung của nguyên tắc thận trọng là: Phải trích lập dự phòng nhƣng Luan van 7 không quá lớn; không đánh giá cao hơn giá trị của tài sản và các khoản thu nhập; không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí; doanh thu chỉ đƣợc ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu đƣợc lợi ích kinh tế, trong khi đó chi phí đƣợc ghi nhân khi có bằng chứng về khả năng phát sinh. Khái niệm và mục đích của hành vi quản trị lợi nhuận a. Khái niệm hành vi quản trị lợi nhuận Đã có nhiều nghiên cứu và đƣa ra khái niệm về hành vi điều chỉnh lợi nhuận.
Thuật ngữ earning management xuất hiện từ khá sớm. Theo Schipper (1989) điều chỉnh lợi nhuận là một sự can thiệp có cân nhắc trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt đƣợc những mục đích cá nhân. Nhà kinh tế học Scott (1997) cho rằng hành vi điều chỉnh lợi nhuận phản ánh hành động của nhà quản trị trong việc lựa chọn các chính sách kế toán nhằm đạt đƣợc mục tiêu cá nhân. Trong nghiên cứu của mình, Healy and Whalen (1999) cho rằng, điều chỉnh lợi nhuận xảy ra khi ban giám đốc sử dụng các ƣớc tính kế toán hoặc giao dịch nội bộ để nhằm thay đổi BCTC, đánh lạc hƣớng ngƣời sử dụng thông tin trên BCTC về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty… Trong khi đó, Ronen và Yaari (2008) đã nghiên cứu, tổng hợp lại các khái niệm và đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: điều chỉnh lợi nhuận là hành vi của nhà quản lý sử dụng việc ghi nhân trên cơ sở dồn tích thông qua một số tài khoản đề làm thay đổi lợi nhuận sau thuế theo các mục tiêu công bố thông tin của họ.
Tùy thuộc vào động cơ, nhóm nghiên cứu Ronen và Yaari phân điều chỉnh lợi nhuận thành 3 nhóm: - White Earnings Management – Điều chỉnh lợi nhuận trắng: Nhà quản trị dựa trên lợi thế về quyền lực để lựa chọn chính sách kế toán một cách linh hoạt nhằm thông báo ý chí cá nhân của họ về dòng tiền của công ty trong Luan van 8 tƣơng lai. Mục đích của nhà quản trị là muốn công bố nhiều thông tin có chất lƣợng tốt hơn tới ngƣời sử dụng. Theo cách này, điều chỉnh lợi nhuận đƣợc xem là có lợi và làm tăng chất lƣợng BCTC - Grey Earnings Management – Điều chỉnh lợi nhuận xám: Nhà quản trị lựa chọn chính sách kế toán trong hoặc ngoài giới hạn cho phép nhằm làm gia tăng giá trị của công ty trƣớc công chúng hoặc vì động cơ vụ lợi - Black Earnings Management – Điều chỉnh lợi nhuận đen: là hành vi sử dụng các biện pháp, thủ thuật của nhà quản trị để làm sai lệch hoặc giảm sự minh bạch của các BCTC Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài mình, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu về khía cạnh điều chỉnh lợi nhuận trắng. Nghĩa là việc các nhà quản trị dựa trên lợi thế về quyền lực để lựa chọn chính sách kế toán một cách linh hoạt nhằm điều chỉnh lợi nhuận trên BCTC.
Tại Việt Nam, đã có một số công trình, bài nghiên cứu và bài báo trong nƣớc bàn về điều chỉnh lợi nhuận nhƣ: PGS-TS. Đƣờng Nguyễn Hƣng với đề tài „‟Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn chính sách kế toán trong các công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam‟‟ định nghĩa: Điều chỉnh lợi nhuận là việc ngƣời quản lý sử dụng các đánh giá chủ quan của mình trong quá trình lập và công bố BCTC và quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh tế để thay đổi BCTC nhằm đánh lừa các bên có liên quan nhất định, hoặc nhằm thay đổi các kết quả của hợp đồng mà điều khoản ràng buộc dựa trên số liệu kế toán.