ĐẶT VẤN ĐỀ An toàn thực phẩm vẫn luôn là một trong những vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của xã hội. Một trong những điều kiện của phát triển bền vững là thực phẩm phải đạt yêu cầu cả về lượng và chất, đặc biệt quan trọng là phải an toàn cho người sử dụng. Benzen được biết đến là một chất có khả năng gây ung thư, đặc biệt là ung thư máu và được tổ chức nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC) xếp vào nhóm I, nhóm gây ung thư trên người. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã phát hiện trong các thực phẩm có khả năng bị nhiễm độc chất benzen.
Benzen có thể nhiễm vào thực phẩm thông qua quá trình sản suất, thôi nhiễm từ dụng cụ bao gói hay hình thành trong quá trình bảo quản. Đặc biệt khi trong thành phần thực phẩm có đồng thời muối benzoat và acid ascorbic sẽ có khả năng phản ứng tạo thành benzen [1]. Điều đáng lo ngại là khi người tiêu dùng ăn phải thức ăn có chứa benzen có thể dẫn tới việc tích lũy dần trong cơ thể và gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe con người. Đặc biệt, việc sử dụng các sản phẩm thực phẩm chứa đồng thời muối benzoat và acid ascorbic là mối nguy tiềm tàng cho việc phơi nhiễm với benzen [1].
Do đó, việc nghiên cứu phát triển các quy trình và phương pháp phân tích benzen trong đối tượng này là rất cần thiết. Hiện nay, một số phương pháp thường được sử dụng để xác định hàm lượng của benzen trong các loại thực phẩm khác nhau có thể kể tới: Phương pháp sắc ký khí ghép khối phổ – kỹ thuật không gian hơi (headspace); Phương pháp sắc ký khí đầu dò khối phổ – kỹ thuật sục khí và bẫy lại (purge and trap)… Tại Việt Nam, hiện chưa có phương pháp tiêu chuẩn để xác định hàm lượng benzen trên các nền mẫu thực phẩm. Các sản phẩm nước giải khát, tương ớt hay mứt là các sản phẩm thực phẩm được sử dụng thường xuyên tại việt Nam, đặc biệt là nước giải khát, nước hoa quả là sản phẩm đồ uống hằng ngày. Các sản phẩm này thường được bổ sung muối benzoat và acid ascorbic, tiềm ẩn khả năng 1 sinh ra benzen.
Do đó, đề tài: “Xác định hàm lượng benzen trong một số sản phẩm chứa đồng thời muối benzoat và acid ascorbic bằng phương pháp sắc ký khí khối phổ GC-MS” được thực hiện được thực hiện với hai mục tiêu: - Xây dựng và thẩm định phương pháp xác định hàm lượng benzen trong một số thực phẩm chứa đồng thời muối benzoat và acid ascorbic. - Áp dụng phương pháp phân tích benzen trong một số thực phẩm chứa đồng thời muối benzoat và acid ascorbic. Tổng quan chung về benzen 1. Công thức cấu tạo và tính chất của benzen Năm 1865, nhà hóa học người Đức Friedrich August Kekulé đã đề xuất cấu trúc benzen chứa một vòng gồm sáu nguyên tử carbon với các liên kết đơn và đôi xen kẽ [2].
Cấu trúc của benzen Benzen (C6H6) là hợp chất hydrocarbon thơm, dễ bay hơi, có khối lượng phân tử thấp, ở điều kiện thường là một chất lỏng không màu và rất dễ cháy [3]. Đặc điểm cấu tạo và một số tính chất lý hóa của benzen được trình bày trong bảng 1. Đặc điểm cấu tạo và một số tính chất hóa lí của benzen Danh pháp IUPAC Benzen Công thức phân tử C6H6 3 Công thức cấu tạo Khối lượng phân tử (g/mol) 78,11 Trọng lượng riêng (g/cm3) 0,87 Tan ít trong nước: độ tan 0,8 g/lít ở 25 °C, Độ hòa tan tan trong hầu hết dung môi hữu cơ, carbon disulfide, acid acetic đậm đặc và dầu. Nguồn gốc của benzen Trong tự nhiên Dầu mỏ, than đá chứa một lượng nhỏ benzen.
Dầu thô, dầu hoả có khoảng 1-4% benzen. Nó là sản phẩm phụ của quá trình đốt cháy không hoàn toàn của nhiều vật liệu và được sinh ra từ những lò đốt than. Benzen cũng đến từ hoạt động của thiên nhiên như phun trào của núi lửa. Trong công nghiệp và các nguồn ô nhiễm khác Trước đây, benzen là một hóa chất công nghiệp thường sử dụng phổ biến trong quá trình sản xuất các chất tẩy rửa, sơn, chất dẻo, và được sử dụng làm nguyên liệu ban đầu để tổng hợp dung môi và các hợp chất thơm như ethylbenzen, phenol, cyclohexan và một số hợp chất thơm khác.
Tuy nhiên do độc tính cao nên benzen đã bị cấm sử dụng. 4 Benzen có thể được sinh ra từ hoạt động của con người như: đốt cháy nhiên liệu hóa thạch trong hoạt động giao thông vận tải, công nghiêp, đốt gỗ, đốt rừng, khói thuốc lá, do bay hơi trong quá trình chưng cất và dự trữ dầu hỏa … [4]. Các phương tiện giao thông đường bộ là nguồn chính gây ô nhiễm benzen, chiếm ~ 60% tổng lượng khí thải vào năm 1990. Các hoạt động trong không gian kín như đốt cháy nhiên liệu để nấu nướng, sưởi ấm, vận hành các thiết bị làm vườn như máy cắt cỏ và máy sưởi cũng là nguồn sinh ra benzen trong không khí [5].
Benzen cũng đã được phát hiện trong một số loại thực phẩm. Benzen có thể xuất hiện trong thực phẩm theo nhiều cách: sử dụng nguyên liệu có chứa benzen, thôi nhiễm từ vật liệu bao gói, bảo quản trong khu vực bị ô nhiễm, sử dụng nước bị ô nhiễm để rửa, pha chế thực phẩm. Ngoài ra, benzen có thể xuất hiện trong quá trình chế biến thực phẩm bởi tác động của nhiệt độ, sự phân hủy của các thành phần phụ gia, chất bảo quản, ví dụ như muối benzoat. Benzen có thể được hình thành trong thực phẩm có chứa benzoat và acid ascorbic [6].
Các muối benzoat đã được FDA công nhận là an toàn và cho phép bổ sung vào thực phẩm với mức nồng độ lên đến 0,1%. Acid ascorbic cũng được công nhận là an toàn và được cho phép thêm vào thực phẩm với mức 0,2%. Ngoài ra một số thực phẩm cũng có thành phần acid ascorbic hoặc acid benzoic như quả nam việt quất có hàm lượng acid benzoic 4,1- 478,4 mg/kg. Điều này dẫn đến nguy cơ xuất hiện benzen trong một số thực phẩm có đồng thời benzoat và acid ascorbic.
Hầu hết sự phơi nhiễm với benzen đến từ việc hít phải khí này thông qua đường hô hấp và theo tính chất của các hoạt động nhưng việc tiêu thụ thực phẩm có chứa benzen cũng đóng một vai trò lớn (bảng 1. Phơi nhiễm benzen được phân loại theo hoạt động Nguồn phơi Hoạt động/phương tiện Hàm Quy định nhiễm lượng Không khí Tiếp xúc với đường hô hấp 220 EU µg/ngày Đổ xăng 32 µg EU (3 phút) Lái xe trong 1h 40 ATSDR (US) µg/ngày Chế độ ăn Sản phẩm thực phẩm và đồ 0,2-3,1 EU uống µg/ngày Thực phẩm 1,4 Canada µg/ngày Nước và thực phẩm 1,4 IPCS (WHO) µg/ngày Hút thuốc Hút thuốc 7900 EU µg/ngày 1820 Canada µg/ngày 1800 IPCS (WHO) µg/ngày Hít phải khói thuốc 63 Canada µg/ngày 50 IPCS (WHO) µg/ngày 1. Con đường hình thành benzen trong thực phẩm Sự có mặt của benzen trong thực phẩm được cho là do nhiều nguồn khác nhau, từ vật liệu đóng gói thực phẩm, môi trường nơi bảo quản thực phẩm, nguồn nước sử dụng bị ô nhiễm, quá trình chế biến thực phẩm… Ngày nay, do 6 nhu cầu về thực phẩm chế biến ngày càng tăng, chất bảo quản đã và đang trở nên quan trọng trong công nghệ thực phẩm hiện đại. Acid benzoic và các muối natri và kali của nó là một trong những chất bảo quản phổ biến nhất được sử dụng để ức chế sự phát triển của vi sinh vật [7].
Bên cạnh đó, acid ascorbic thường xuất hiện tự nhiên trong một số nước trái cây, chẳng hạn như cam, chanh, ổi…, và đồng thời cũng có thể được bổ sung thêm vào như một chất chống oxy hóa hoặc chất dinh dưỡng [1]. Vào năm 1990, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phát hiện benzen có trong một số đồ uống. Sau đó, vào năm 2006, FDA xác nhận rằng benzen được hình thành khi đồ uống có chứa đồng thời natri benzoat và acid ascorbic. Benzen hình thành là do sự khử nhóm COO- của natri benzoat hoặc nhóm COOH của acid benzoic khi có mặt vitamin C (acid ascorbic) có trong thực phẩm [4].2 dưới đây mô phỏng sự khử nhóm COOH của acid benzoic.
Sự khử nhóm COOH của acid benzoic Nồng độ benzen tỷ lệ với mức hàm lượng natri benzoat và acid ascorbic. Trong nước ép việt quất, hàm lượng benzen được hình thành ở mức lên đến 22,99 ng/mL khi nồng độ của acid ascorbic được tăng lên đến 0,5%. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới phản ứng này như pH môi trường, nhiệt độ, tia cực tím, sự có mặt của chất xúc tác. Phản ứng tạo thành benzen dựa trên cơ chế tạo gốc 7 tự do.
Ngoài acid ascorbic, một số chất có khả năng sinh ra các gốc pecrocid hay hydroxyl cũng có thể xúc tác cho phản ứng [1]. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tạo thành benzen - Ảnh hưởng của hệ đệm và pH môi trường Sự hình thành benzen từ việc khử carboxyl của muối benzoat bị ảnh hưởng bởi giá trị pH môi trường. Môi trường pH acid (khoảng pH từ 3 – 5) tạo điều kiện tốt cho phản ứng hình thành benzen [6]. Các hệ đệm khác nhau cũng ảnh hưởng đến quá trình hình thành benzen, điều này có thể giải thích bằng việc hệ đệm tương tác với ion kim loại (Cu2+, Fe2+) tạo thành các phức chất có hoạt tính xúc tác khác nhau, ảnh hưởng đến tốc độ của phản ứng tạo thành benzen [8].
- Ảnh hưởng của nhiệt độ, tia cực tím Sự hình thành của benzen được kiểm tra đối với các mẫu được đóng gói với chất liệu hấp thụ tia UV và chất liệu không hấp thụ tia UV. Thêm vào đó, việc khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ sẽ giúp đánh giá được hạn sử dụng của sản phẩm. Dưới ánh sáng UV cường độ cao, mức benzen hình thành trong các dung dịch mẫu được bảo quản bằng chai không hấp thụ UV tăng lên, trong khi đó, các mẫu sử dụng chai polyethylen terephthalat giảm mức hình thành của benzen [9]. Như vậy, tia UV làm tăng sự tạo thành benzen từ phản ứng của natri benzoat với acid ascorbic.
- Ảnh hưởng của chất xúc tác Acid ascorbic dễ tạo thành các gốc tự do khi có mặt ion kim loại chuyển tiếp đóng vai trò như một chất xúc tác [6]. Ngoài ra, các nguồn sinh gốc tự do tiềm năng khác có trong thực phẩm cũng góp phần vào việc hình thành benzen. Khi trong thực phẩm có đồng thời acid benzoic, acid ascorbic và kim loại chuyển tiếp (Cu2+), benzen hình thành lên đến 896 µg/kg, nhưng trong điều kiện không có xúc tác ion kim loại, lượng benzen hình thành rất thấp, ở mức dưới 9 µg/kg [8].