CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. Tổng quan hoạt động nuôi gà 1. Tổng quan về ngành nuôi gà trên thế giới Gà là loài phổ biến nhất trong tất cả các loài vật nuôi, hoạt động này hầu như có ở mọi nơi có con người sinh sống. Do doanh thu quay vòng nhanh và là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng, nuôi gà đã và đang được nhiều nước đầu tư, sản xuất hiệu quả.
Theo FAO năm 2018, số lượng gà trên thế giới là hơn 23 tỷ con, tăng gần 3% so với năm 2017, trong khi tốc độ gia tăng về số lượng vật nuôi hàng năm của thế giới thường chỉ đạt trên dưới 1%/ năm. Đa số gia cầm được nuôi theo hình thức chăn nuôi công nghiệp bằng kỹ thuật thâm canh. Theo Viện Worldwatch năm 2014 thì 74% số thịt gia cầm và 68% số trứng được sản xuất theo phương thức này. Ngoài ra còn có cách nuôi gà thả vườn.
Sự đối lập giữa hai phương pháp nuôi gà nêu trên đã dẫn đến một số vấn đề về hiệu quả và tác động môi trường khác nhau. Đối với hình thức thâm canh sẽ tiết kiệm đất đai và thức ăn nhờ tăng năng suất, động vật được chăm sóc với hệ thống thiết bị hiện đại được kiểm soát. Tuy nhiên, nuôi thâm canh cũng gây hại cho môi trường, gây nên các nguy cơ đối với sức khỏe con người cao hơn. Tình hình chăn nuôi gà Ngày nay, ngành nuôi gà đang dần được công nghiệp hóa với quy mô tăng dần.
Các nước có tổng đàn gà lớn như: Trung Quốc, Indonesia, Hoa Kỳ, Brazil, Canada, Iran, Ấn Độ, Anh,…Nhìn chung, các nước tiên tiến đều phát triển nuôi gà theo hình thức công nghiệp và đạt trình độ chuyên môn cao. Trong giai đoạn 2010 - 2018, số lượng gà trên thế giới có sự gia tăng nhanh chóng (xem Hình 1. 6 Xu hướng phát triển Theo nhiều nghiên cứu trên thế giới, tỷ lệ sử dụng các thực phẩm động vật tăng tỷ lệ thuận với tốc độ công nghiệp hóa của một quốc gia. Số liệu thống kê trên 122 nước của tổ chức FAO năm 2018, tỷ lệ năng lượng trong khẩu phần từ các sản phẩm chăn nuôi có một sự tương quan nghịch chặt chẽ với tỷ lệ dân số lao động trong ngành nông nghiệp.
Điều này chứng tỏ mức độ sử dụng các thực phẩm có nguồn gốc động vật tỷ lệ thuận với tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa. Ngành chăn nuôi toàn cầu được đánh giá vừa là tác nhân gây ô nhiễm môi trường vừa là đối tượng chịu hậu quả của ô nhiễm môi trường do chính ngành này gây ra. Theo các nhà khoa học, hành tinh con người đang sống không khác gì một trang trại khổng lồ vì 40% diện tích bề mặt trái đất được sử dụng để sản xuất thực phẩm cho con người. Ước tính ngành chăn nuôi phát thải khoảng 15% tổng lượng phát thải khí nhà kính của con người, gần như tương đương với lượng khí thải trực tiếp từ giao thông vận tải.
Tổng quan về ngành nuôi gà tại Việt Nam Theo thống kê của Bộ NN&PTNT năm 2018 về chăn nuôi, cả nước hiện có khoảng 12 triệu hộ gia đình có hoạt động chăn nuôi và 23.500 trang trại chăn nuôi tập trung. Trong đó, phổ biến ở nước ta là chăn nuôi lợn (khoảng 4 triệu hộ) và gia cầm (gần 8 triệu hộ), với tổng đàn khoảng hơn 408 triệu con gia cầm, 28 triệu con lợn và 8 triệu con gia súc. Tổng đàn gia cầm trong 3 năm nay với tốc độ tăng trưởng trung bình là 6,33%, trong đó đàn gà tăng trưởng 6,93% (gà thịt tăng 7,24%; gà đẻ tăng 5,88%). Cơ cấu nuôi gà tại Việt Nam Trong cơ cấu nuôi gà của Việt Nam, khu vực miền Bắc (gồm các tỉnh từ Bắc Trung Bộ trở ra) chiếm tỷ trọng lớn hơn so với khu vực miền Nam (từ Duyên hải Nam trung bộ trở vào), chiếm tới 61,54% tổng đàn gà của cả nước.
Đồng bằng sông Hồng và Trung du miền núi phía Bắc là 2 khu vực có tổng đàn gà lớn nhất trong cả nước với số lượng gà lần lượt là 77,916 và 75,434 triệu con chiếm 24,6 % và 23,81% (năm 2018). Vùng có số lượng gà ít nhất là Tây Nguyên với 17,365 triệu con chiếm 8 5,47%. Tốc độ tăng trưởng số lượng gà của các vùng miền trong cả nước được thể hiện chi tiết ở Bảng 1. Cơ cấu nuôi gà theo vùng miền của Việt Nam Năm So sánh So sánh 2016 Năm 2017 Năm 2018 (%) (%) STT Vùng miền (triệu (triệu con) (triệu con) 2017 với 2018 với con) 2016 2107 1 Cả nước 259,092 275,662 316,916 106,39 114,96 ĐB Sông 2 64,68 68,492 77,916 105,89 113,75 Hồng Miền núi và 3 60,212 64,564 75,434 107,23 116,83 Trung du Bắc Trung Bộ 4 53,848 56,619 62,785 105,15 110,89 và DHMT 5 Tây Nguyên 15,351 16,091 17,365 104,82 107,91 6 Đông Nam Bộ 33,826 35,968 41,729 106,33 116,02 ĐB sông Cửu 7 31,175 33,929 41,688 108,83 122,87 Long (Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2018) Quy mô nuôi gà tại Việt Nam Những năm qua, quy mô chăn nuôi gia cầm nói chung và nuôi gà đã có những phát triển nhảy vọt.
Từ chăn nuôi phân tán, quy mô nhỏ, tự phát, dần dần chuyển thành chăn nuôi tập trung với quy mô lớn hơn; năng suất và chất lượng sản phẩm ngày càng tăng, cho lợi nhuận càng nhiều; số gia cầm tăng bình quân mỗi năm trên 7%. Đến nay, có thể nói đã có nhiều thay đổi về phương thức nuôi, chất lượng con giống và sản phẩm, góp phần chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp một cách hợp lý hơn. Nhiều tiến bộ kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất đạt hiệu quả đáng ghi nhận. Nhiều doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này một cách bài bản, cùng những giải pháp 9 căn cơ, đã có những sản phẩm gia cầm có lợi thế, có tính cạnh tranh, tham gia xuất khẩu đi một số nước.
Hình thức trang trại chăn nuôi chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lượng trang trại nông nghiệp cả nước, và hiện tỷ trọng này đang có chiều hướng tăng lên.026 trang trại chăn nuôi (bằng 38,72% tổng số trang trại nông nghiệp), 2 vùng đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ có nhiều trang trại nhất (tương ứng có 3. Hệ thống chăn nuôi thường có quy mô nhỏ, mức độ vệ sinh an toàn thực phẩm thấp đang cung cấp ra thị trường gần 70% sản phẩm thịt. Trong khi đó, chăn nuôi thương mại quy mô lớn, công nghệ hiện đại, an toàn thực phẩm cao chỉ mới cung cấp trên 15% lượng thịt cho tiêu dùng. Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê năm 2018, trong số lượng gà nuôi lấy thịt thì gà trắng (gà công nghiệp) có hơn 64 triệu con và chiếm 24,41% trong tổng đàn gà thịt năm 2018.
Do việc nuôi gà trắng tại Việt Nam hiện tập trung vào tay các công ty lớn nên không có sự thay đổi nhiều về cung cầu, cơ bản đã tương đối cân bằng, quy mô chăn nuôi được mở rộng. Trong khi đó, đàn gà màu chủ yếu là các nông hộ chăn nuôi thì năm 2018 vẫn mở rộng đàn tới 9,48% tương đương với 21,6 triệu con, đạt hơn 181 triệu con. Dưới đây là bảng thể hiện sự gia tăng số lượng các loại gà trong 3 năm từ 2016 đến 2018. Sự gia tăng số lượng các loại gà qua các năm.
So sánh So sánh Năm Năm Năm (%) năm (%) năm 2016 2017 2018 STT Phân loại 2017 2017 (triệu (triệu (triệu với với con) con) con) 2016 2018 1 Tổng số 259,092 275,662 316,916 106,39 114,96 10 Gà công 48,872 53,745 64,197 109,97 119,44 nghiệp 2 Gà thịt Gà đàn 151,297 160,104 181,717 105,82 113,499 màu Gà công 22,525 24,821 30,767 110,193 123,95 nghiệp Gà đẻ 3 trứng Gà đàn 36,197 37,093 40,235 102,47 108,47 màu (Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2018) Số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2018 cho thấy, tổng đàn gà nuôi lấy trứng của Việt Nam có hơn 70,9 triệu con, tăng 14,7% so với năm 2017, tương đương với 9,1 triệu con. Tăng gấp 2,67 lần so với mức độ tăng trưởng từ năm 2016 đến 2017, đây là dấu hiệu tốt cho sự phát triển ngành chăn nuôi. Trong đó 10 tỉnh có đàn gà lấy trứng lớn nhất cả nước năm 2018 đó là: Hà Nội, Tiền Giang, Nghệ An, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Bình Dương, Thái Bình, Phú Thọ, Đăk Lăk. Kỹ thuật nuôi gà Chăn nuôi gia cầm đã tiếp thu nhanh những tiến bộ khoa học công nghệ tiên tiến cả về con giống và trang thiết bị, đã coi khoa học công nghệ là động lực phát triển, là lực lượng sản xuất quan trọng, và đã có được những bước đột phá trong khoa học công nghệ để cho ra những sản phẩm có chất lượng và giá trị cao có tính cạnh tranh trên thị trường.
Việt Nam đã cơ bản làm chủ được công nghệ sản xuất con giống bố mẹ trong nước, đồng thời chọn lọc tạo ra được một số dòng có năng suất và chất lượng cao cho nên các giống gia cầm phát huy mạnh trong sản xuất đã trở thành nguồn thu nhập lớn cho người chăn nuôi. 11 Tuy nhiên ngành chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nôi gà nói riêng hiện nay vẫn tồn tại một số bất cập như chưa có hệ thống đồng bộ quản lý nhà nước về vật nuôi từ trung ương đến địa phương. Năng suất chất lượng con giống trong sản xuất chăn nuôi hiện nay còn hạn chế. Chất lượng giống của một số cơ sở giống không đảm bảo chất lượng.
Việc đầu tư nghiên cứu, chọn tạo đàn giống gia cầm chất lượng cao còn quá ít, trong khi phải cạnh tranh mạnh với giống nhập lậu; người chăn nuôi lại luôn trong tình trạng thiếu vốn, thiếu đất đai để phát triển sản xuất.Ngoài ra, công tác dự báo, thông tin thị trường thiếu, không cập nhật và khó tiếp cận. Nguồn và lượng chất thải phát sinh từ nuôi gà Chăn nuôi được xác định là một trong những ngành sản xuất tạo ra một lượng chất thải nhiều nhất ra môi trường. Chất thải chăn nuôi bao gồm các chất ở tất cả các dạng rắn, lỏng hay khí phát sinh trong quá trình chăn nuôi, lưu trữ, chế biến hay sử dụng chất thải. Ước tính khối lượng chất thải chăn nuôi phát sinh được thể hiện trong bảng dưới đây.
Ước tính khối lượng chất thải chăn nuôi phát sinh Tổng chất thải rắn (triệu tấn/năm) Loài vật CTR bình quân STT nuôi (kg/ngày/con) 2016 2017 2018 1 Bò 10 39.383 (Nguồn: Công ty CP KTMT Đại Việt, 2018) Theo số liệu từ bảng trên cho thấy lượng chất thải từ hoạt động nuôi gà là rất cao, cao nhất trong các ngành chăn nuôi, chiếm khoảng 38,51% tổng lượng chất thải rắn từ hoạt động chăn nuôi.