Chương 1 CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH ỨNG XỬ CỦA KẾT CẤU CHỊU TẢI TRỌNG ĐỘNG ĐẤT 1. Quá trình phát triển các phương pháp Trong những năm cuối thế kỷ XIX - đầu của thế kỷ XX, sau các trận động ở Nobi (Nhật Bản – 1891) và San Francisco (1906), hai nhà khoa học Nhật Bản là Omori và Sano đã đề xuất lý thuyết tính toán tĩnh để xác định tải trọng động đất lên kết cấu công trình. Theo phương pháp này, toàn bộ công trình xây dựng được xem như một vật thể cứng tuyệt đối đặt trên nền đất. Khi có động đất xảy ra, các đặc trưng như chuyển vị ngang, vận tốc và gia tốc tại bất kỳ vị trí nào trên công trình cũng bằng các đặc trưng dao động nền tại chân công trình.
Với giả thiết này, tải trọng động đất lên công trình được xác định theo biểu thức [4]: x F Ms x0,max 0,max Q KsQ (1.1) g trong đó: M và Q lần lượt là khối lượng và trọng lượng của kết cấu công trình x0,max : gia tốc cực đại của nền đất dưới chân công trình. g: gia tốc trọng trường. Ks: hệ số địa chấn. Không lâu sau khi lý thuyết tính toán tĩnh này xuất hiện, việc phân tích tác động của động đất lên kết cấu công trình đã làm nổi lên một số nhược điểm trong phương pháp của Omori.
Đầu tiên, có rất ít kết cấu có thể được xem là cứng tuyệt đối. Khi nền đất chuyển động, đa số các công trình đều biến dạng nên chuyển vị và gia tốc tại các vị trí khác nhau trên công trình là khác nhau, thậm chí còn lớn hơn chuyển vị và gia tốc nền đất dưới chân công trình. Tiếp theo, chu kỳ dao động tự nhiên của hệ kết cấu trùng hoặc gần trùng với chu kỳ dao động của nền đất thì có thể xảy ra hiện tượng cộng hưởng làm hiệu ứng tác động của động đất tăng lên nhiều lần. Tiếp đến là chưa xét đến độ cản của kết cấu trong quá trình dao động.
Năm 1920, nhà khoa học Nhật Mononobe đã đề nghị đưa các tính chất biến dạng của kết cấu vào trong tính toán tác động động đất. Ông xem kết cấu như một hệ có một bậc tự do dao động không có lực cản và giả thiết trong thời gian xảy ra động đất, nền đất chuyển động theo quy luật điều hòa sau [4]: x0 (t ) x0,max sin(t ) (1.2) Trong phương pháp của mình, Mononobe chỉ xét tới phần dao động cưỡng bức của hệ kết cấu và đã thu được hệ số khuyếch đại động có dạng sau: z 5 1 T2 (1.3) 1 2 T0 trong đó: T, T0 lần lượt là chu kỳ dao động của kết cấu và chu kỳ dao động của nền đất (T0 có giá trị từ 0. Trên cơ sở hệ số động đất này, tác động động đất lớn nhất lên hệ kết cấu được xác định theo biểu thức [4]: x0,max F Ms x0,max Q KsQ (1.4) g Tuy nhiên Mononobe đã bỏ qua lực cản, chưa xét đến lực động đất sẽ tăng thêm khi có tác dụng của dao động tự do và dao động cưỡng bức, phạm vi áp dụng cũng cho kết cấu có 1 bậc tự do nhưng chưa giải quyết được sự phân bố động đất theo chiều cao công trình (tức kết cấu có nhiều bậc tự do). Năm 1927, nhà khoa học Nga Zavriev đã đưa ra các yếu tố quan trọng trong dao động tự nhiên trong giai đoạn khởi đầu của tác động động đất [4].
Zavriev đã đặt nền móng đầu tiên cho cơ sở lý thuyết động lực học trong tính toán tác động động đất. Năm 1934, nhà khoa học Mỹ Biot đã đề xuất phương pháp tính tải trọng động đất bằng cách dùng các số liệu dao động nền đất thực ghi lại được khi động đất xảy ra. Năm 1949, Housner và Kahn đã đưa ra được cách xác định phổ gia tốc bằng thiết bị tương tự điện. Vào những thập niên 80 của thế kỷ XX, hàng loạt các kết quả nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm được thực hiện, quan điểm thiết kế kháng chấn mới được hình thành.
Theo các quan điểm mới này, các công trình được thiết kế sao cho có khả năng chịu được các trận động đất vừa và nhỏ xuất hiện ngẫu nhiên mà công trình không bị hư hỏng, khi gặp các trận động đất mạnh thì công trình không bị sụp đổ. Một số phương pháp tính toán 1. Phương pháp tính toán tĩnh tương đương Phương pháp tính toán tĩnh tương đương (còn gọi là phương pháp lực ngang tương đương) là phương pháp tính toán đơn giản nhất trong số các phương pháp được dùng để xác định phản ứng của kết cấu chịu tác động động đất. Phương pháp này giả định rằng kết cấu làm việc đàn hồi tuyến tính, còn tính phi tuyến hình học được xem xét tới một cách gián tiếp.
Các tải trọng ngang tác động lên chiều cao z 6 công trình được xem là tương đương với tác động động đất và được tổ hợp với các tải trọng đứng (lực trọng trường). Phương pháp này thường được sử dụng để thiết kế các công trình tương đối đều đặn có chu kỳ cơ bản bằng khoảng 1. Đối với các công trình có hình dạng không đều đặn hoặc có chu kỳ dài cần sử dụng các phương pháp động chính xác hơn như phân tích dạng hoặc phân tích lịch sử phản ứng không đàn hồi. Phương pháp tính toán tĩnh phi tuyến Trong phương pháp này, sự phân bố giả định lực quán tính ngang được dựa trên giả thiết cho rằng phản ứng của công trình được kiểm soát bởi một dạng dao động duy nhất và hình dạng của dao động này giữ nguyên không đổi trong suốt thời gian phản ứng.
Thông thường, dạng dao động cơ bản được chọn là dạng phản ứng trội của hệ nhiều bậc tự do động, ảnh hưởng của các dạng dao động khác được xem là nhỏ và được bỏ qua. Phương pháp tính toán tĩnh phi tuyến với phân bố tải trọng ngang như vậy được gọi là phương pháp tính toán đẩy dần quy ước và thường được dùng để tính toán phản ứng của các công trình có chiều cao thấp và trung bình. Do tính đơn giản và khả năng xác định với độ chính xác chấp nhận được quá trình biến dạng của hệ kết cấu cũng như các bộ phận thành phần mà không cần phải thực hiện việc mô hình hóa phức tạp và tính toán công phu như tính toán động nên phương pháp tính toán đẩy dần được xem là một phương pháp hữu hiệu và tiện lợi trong tính toán động. Phương pháp phân tích dạng dao động và phổ phản ứng Phản ứng của kết cấu có nhiều bậc tự do chịu tác động động đất có thể được tính toán bằng cách phân tích hệ kết cấu thành nhiều hệ kết cấu có một bậc tự do tương đương.
Tính toán phản ứng mỗi hệ tương đương theo thời gian và sau đó cộng đại số các phản ứng lại để được phản ứng của kết cấu ban đầu. Phương pháp này được gọi là phương pháp phân tích dạng. Nếu việc tính toán chỉ nhằm xác định các đại lượng phản ứng lớn nhất thì tác động động đất sẽ được cho dưới dạng phổ phản ứng và kết quả tính toán theo phương pháp tích phân dạng dao động sẽ là phản ứng lớn nhất của hệ kết cấu. Phương pháp tính toán này có tên gọi là phương pháp phổ phản ứng.
Phương pháp tích phân dạng dao động cũng như phương pháp phổ phản ứng có những nhược điểm sau: Phụ thuộc vào việc tách một cách nhân tạo các dạng dao động. Phải tổ hợp các kết quả tính toán ở các dạng dao động lại theo nguyên tắc cộng tác dụng nên chỉ giới hạn ở giai đoạn làm việc đàn hồi tuyến tính của vật liệu. z 7 Không áp dụng được cho một số hệ kết cấu không sử dụng được kỹ thuật phân tích dạng. Không cho các chỉ dẫn chính xác về sự hình thành khớp dẻo ở một số cấu kiện.
Phương pháp tích phân trực tiếp phương trình chuyển động Phản ứng của các hệ kết cấu chịu tác động bất kỳ hoặc động đất có thể xác định được bằng cách tích phân trực tiếp phương trình chuyển động theo thời gian. Phương pháp này không cần thay đổi hoặc biến đổi các phương trình chuyển động sang hệ có một hoặc nhiều bậc tự do như ở phương pháp tích phân dạng dao động. Phương pháp tích phân trực tiếp theo thời gian xác định các giá trị gần đúng của nghiệm đối với một tập hợp các giá trị thời gian T được lựa chọn. Có thể tóm tắt nguyên tắc của phương pháp này như sau: (i) giả thiết các hàm mô tả sự biến thiên của chuyển vị, vận tốc và gia tốc trong một khoảng thời gian và (ii) các phương trình chuyển động không phải thỏa mãn ở tất cả ở mọi thời gian T mà chỉ trong khoảng thời gian không đổi Δt.
Khoảng thời gian này được gọi là bước thời gian. Điều này cũng có nghĩa rằng điều kiện cân bằng tĩnh của các lực quán tính, lực cản và lực đàn hồi với tải trọng tác động sẽ xảy ra ở nhiều bước thời gian Δt, 2Δt, …, nΔt, …. Ở mỗi bước thời gian, phương trình chuyển động được giải với các điều kiện ban đầu là chuyển vị, vận tốc được xác định ở bước trước đó. Phương pháp tích phân trực tiếp theo thời gian có thể áp dụng cho các hệ kết cấu tuyến tính lẫn phi tuyến nên có thể xem là phương pháp tổng quát duy nhất tính toán phản ứng động của các hệ kết cấu chịu tải trọng bất kỳ.
Kết luận chương 1 Chương 1 đã trình bày tóm lược lịch sử phát triển các phương pháp phân tích ứng xử của kết cấu chịu tải trọng động đất. Đồng thời cũng đưa ra một số ưu nhược điểm của các phương pháp đó. z 8 Chương 2 XÂY DỰNG MÔ HÌNH PHẦN TỬ HỮU HẠN ĐỂ TÍNH TOÁN ĐÁP ỨNG ĐỘNG LỰC HỌC CỦA KHUNG, DẦM 2D-FGM CHỊU TẢI TRỌNG ĐỘNG ĐẤT 2. Dầm 2D-FGM Hình 2.1 minh họa dầm 2D-FGM với chiều dài L, chiều rộng b và chiều cao h trong hệ tọa độ Đề-các (x, z).
Hệ tọa độ (x, z) được chọn sao cho trục x trùng với mặt giữa của dầm, trục z vuông góc với mặt giữa và hướng lên trên. Mô hình dầm 2D-FGM Dầm được giả định được tạo thành từ bốn vật liệu thành phần, cụ thể là gốm 1, gốm 2, kim loại 1 và kim loại 2.