Chương 1: TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH KẾT CẤU DÀN 1. Một số phương pháp phân tích nội lực và chuyển vị cho bài toán kết cấu dàn, khi chịu tải trọng tĩnh Từ nửa đầu của thế kỷ XVII trở về trước, các công trình khác nhau được xây dựng thường dựa trên cơ sở truyền bá kinh nghiệm từ thế hệ này qua thế hệ khác hoặc từ sự hướng dẫn của người đi trước cho người đi sau. Các bộ phận công trình cũng được xây dựng như vậy. Những công trình hoặc bộ phận công trình sau khi xây dựng, nếu được tồn tại thì lấy đó làm mẫu để xây dựng cho những cái tương tự về sau.
Cách làm như thế rất nguy hiểm, vì các công trình xây dựng mới dựa vào kinh nghiệm như thế thì người xây dựng không chắc chắn được các công trình này có tồn tại không, hoặc các bộ phận của công trình có đảm bảm an toàn khi đưa công trình vào sử dụng và trong thực tế rất nhiều công trình có thể bị phá hoại ngay trong quá trình xây dựng. Mãi đến giữa thế kỷ XVII thì người ta mới chú ý đến nghiên cứu tính toán đến khả năng chịu lực của vật liệu dùng để làm các bộ phận của công trình và yêu cầu đặt ra là kích thước các cấu kiến của các công trình này hợp lý nhất để chi phí xây dựng là nhỏ nhất, nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu kết cấu không bị phá hoại khi sử dụng. Hiện nay, các phương pháp phân tích chuyển vị, nội lực của kết cấu dàn, kết cấu khung khi chịu tải trọng tĩnh có thể chia thành một số nhóm phương pháp chính như sau: 1.1 Phương pháp tách nút Phương pháp tách nút là trường hợp đặc biệt của phương pháp mặt cắt. Trong đó hệ lực cần khảo sát cân bằng là hệ lực đồng quy.
Nội dung phương pháp: Phương pháp tách nút là sự khảo sát sự cân bằng của từng nút được tách ra khỏi dàn. Thứ tự áp dụng: - Lần lượt tách từng nút ra khỏi dàn bằng những mặt cắt bao quanh nút. 4 - Thay thế tác dụng của các thanh bị cắt bằng lực dọc trong thanh đó, sau khi thay thế tại mỗi nút ta có một hệ lực đồng quy. - Khảo sát sự cân bằng của từng nút chúng ta sẽ xây dựng nên được một hệ phương trình cân bằng các nút mà ẩn số của các hệ này là lực dọc trong các thanh dàn.
- Cuối cùng ta chỉ việc giải hệ sẽ xác định được lực dọc trong các thanh dàn. Phạm vi áp dụng phương pháp: Phương pháp tách nút chỉ sử dụng tính toán các dàn tĩnh định còn dàn siêu tĩnh không áp dụng được.2 Phương pháp mặt cắt Nội dung phương pháp: Phương pháp mặt cắt đơn giản được thực hiện bằng mặt cắt qua các thanh tìm nội lực (số lực chưa biết không lớn hơn số phương trình cân bằng được lập) và viết phương trình cân bằng cho từng phần của dàn. Thứ tự áp dụng: - Thực hiện mặt cắt qua thanh cần tìm nội lực và mặt cắt chia dàn ra làm hai phần độc lập. - Thay thế tác dụng của các thanh bị cắt bằng các lực dọc tương ứng.
Khi chưa biết lực dọc ta giả thiết lực dọc dương nghĩa là hướng ra ngoài mặt cắt đang xét. - Lập phương trình cần bằng cho một phần dàn bị cắt (phần bên phải hoặc phần bên trái). Từ các phương trình cần bằng sẽ suy ra nội lực cần tìm. Nếu kết quả mang dấu dương thì chiều nội lực hướng theo chiều giả định, tức là kéo.
Ngược lại nếu kết quả mang dấu âm thì chiều nội lực hướng ngược chiều giả định, tức là nén. Phạm vi áp dụng phương pháp: Phương pháp mặt cắt đơn giản chỉ dùng tính toán cho dàn tĩnh.3 Phương pháp mặt cắt phối hợp Nội dung phương pháp: Phương pháp mặt cắt phối hợp được áp dụng để tính dàn khi không dùng được mặt cắt đơn giản, nghĩa là khi tại một mặt cắt, số lực chưa biết lớn hơn ba. Mục đích chính của phương pháp này là tìm cách thiết lập một số phương trình cân bằng chỉ chứa một số lực chưa biết bằng số phương trình đó. Khi thiết lập một phương trình cân bằng trong mỗi mặt cắt nói chung ta chỉ có thể loại trừ được hai lực chưa biết.
Bởi vậy, khi chỉ có thể thực hiện mặt cắt qua bốn thanh chưa biết nội lực mới đủ điều kiện là cắt qua thanh cần tìm nội lực và chia dàn thành hai phần độc lập thì ta phải dùng hai mặt cắt phối hợp. Với hai mặt cắt thì ta có thể tìm được ngay hai nội lực theo hai phương trình. Muốn vậy: - Hai mặt cắt cùng phải đi qua hai thanh cần tìm nội lực và mỗi mặt cắt chỉ có thể đi qua hai thanh khác chưa cần tìm nội lực. - Trong mỗi mặt cắt, thiết lập một phương trình cân bằng sao cho các lực chưa cần tìm không tham gia.
Phạm vi áp dụng phương pháp: Phương pháp mặt cắt phối hợp chỉ dùng tính toán cho dàn tĩnh.4 Phương pháp họa đồ - Giản đồ Maxwell - Cremona Nội dung phương pháp: Phương pháp họa đồ là phương pháp vẽ để giải bài toán. Có thể dùng phương pháp này để giải nhiều bài toán khác nhau của cơ học và để xác định phản lực, nội lực cho hệ dàn tĩnh định. Cách giải bài toán được trình bày toàn bộ trên hình vẽ gọi là giản đồ Maxwell – Remona. Dựa vào điều kiện cần và đủ để hệ lực đồng quy được cân bằng là đa giác lực của hệ đồng quy này phải khép kín.
Lần lượt áp dụng điều kiện này cho từng nút của dàn bị tách ra theo thứ tự sao cho tại mỗi nút của dàn chỉ có 6 hai nội lực chưa biết trị số nhưng đã biết phương thì ta xác định được nội lực của tất cả các thanh dàn. Phạm vi áp dụng phương pháp: Phương pháp họa đồ chỉ dùng tính toán cho dàn tĩnh.5 Phương pháp lực Nội dung phương pháp: Phương pháp lực được áp dụng trong việc tính toán hệ dàn siêu tĩnh. Để tính toán hệ dàn siêu tĩnh, ta không tính trực tiếp trên hệ đó mà tính trên một hệ thay thế khác cho phép dễ dàng xác định nội lực. Hệ thay thế này suy ra từ hệ siêu tĩnh đã cho bằng cách loại bớt các liên kết thừa gọi là hệ cơ bản.
Hệ cơ bản của phương pháp lực phải là hệ bất biến hình suy ra từ hệ siêu tĩnh đã cho bằng cách loại bỏ tất cả hay một số liên kết thừa. Nếu loại bỏ tất cả các liên kết thừa thì hệ cơ bản là tĩnh định còn nếu chỉ loại bỏ một số liên kết thừa thì hệ cơ bản là siêu tĩnh có bậc thấp hơn. Điều quan trọng là hệ cơ bản phải là bất biến hình và cho phép ta xác định nội lực của các thanh dễ dàng. Vì vậy, trong đại đa số trường hợp ta thường chọn hệ cơ bản là tĩnh định.
Để đảm bảo cho hệ cơ bản làm việc giống hệ siêu tĩnh đã cho cần bổ sung thêm các điều kiện. Trong hệ cơ bản đặt các lực X1, X2,…, Xn tương ứng với vị trí và phương của các liên kết bị loại bỏ. Những lực này liên kết giữ vai trò là ẩn. Thiết lập điều kiện chuyển vị trong hệ cơ bản tương ứng với vị trí và phương của các liên kết bị loại bỏ bằng không.
Phạm vi áp dụng phương pháp: Phương pháp lực thường áp dụng để giải các bài toán dàn siêu tĩnh.6 Phương pháp chuyển vị Nội dung phương pháp: Phương pháp chuyển vị cũng là phương pháp dùng để xác định nội lực trong hệ dàn siêu động (Hệ siêu động là những hệ khi chịu chuyển vị cưỡng 7 bức, nếu chỉ dùng các điều kiện động học không thôi thì chưa đủ để xác định tất cả các chuyển vị tại các nút hệ). Khác với phương pháp lực, trong phương pháp chuyển vị ta dùng tập hợp các biến dạng ở hai đầu thanh làm đại lượng cần tìm. Những đại lượng này sẽ tìm được nếu biết chuyển vị tại các nút của hệ. Như vậy theo phương pháp này ta chọn ẩn là chuyển vị của các nút của hệ.
Chính vì lẽ đó mà phương pháp được gọi là phương pháp chuyển vị (còn gọi là phương pháp biến dạng). Sau khi xác đinh chuyển vị tại các nút, tức là chuyển vị tại đầu thanh ta sẽ xác định được nội lực. Theo phương pháp chuyển vị, để tính hệ siêu động ta không tính trên hệ đó mà thực hiện tính toán trên hệ cơ bản đồng thời bổ sung các điều kiện đảm bảo cho hệ cơ bản làm việc giống hệ thực. Hệ cơ bản của phương pháp chuyển vị là hệ suy ra từ hệ siêu động đã cho bằng cách đặt thêm vào hệ những liên kết phụ nhằm ngăn cản chuyển vị xoay và chuyển vị thẳng của các nút trong hệ (những liên kết phụ gồm hai loại: liên kết mômen và liên kết lực).
Hệ cơ bản có thể là hệ xác định động hoặc hệ siêu động. Nếu số liên kết được đặt thêm vào hệ bằng số bậc siêu động thì hệ cơ bản là hệ xác định động. Nếu số liên kết đặt thêm vào hệ ít hơn số bậc siêu động ta được hệ cơ bản là hệ siêu động với bậc thấp hơn. Nếu hệ cơ siêu động có n liên kết đặt thêm, lần lượt ký hiệu các chuyển vị Z1, Z2,…, Zk,…, Zn với Zk là chuyển vị cưỡng bức tại liên kết thứ k đặt vào hệ.
Các chuyển vị này giữ vai trò là ẩn số của phương pháp chuyển vị. Phạm vi áp dụng phương pháp: Phương pháp chuyển vị thường áp dụng để giải các bài toán dàn siêu động.7 Các phương pháp số [1,7,12] Khi giải bài toán bằng các phương pháp số, nghiệm của bài toán sẽ được xác định tại một số hữu hạn các điểm của vật thể; hay nói khác đi nghiệm được mô tả theo một tập hợp số, các điểm còn lại được xác định bằng cách 8 nội suy. Các phương pháp số là phương pháp gần đúng và có thể được chia thành 2 nhóm chính: Nhóm rời rạc hóa về mặt toán học (phương pháp sai phân hữu hạn); Nhóm rời rạc hóa về mô hình vật thể nghiên cứu (phương pháp phần tử hữu hạn, phương pháp phần tử biên, phương pháp ma trận chuyển v. Các cách xử lý điều kiện biên của kết cấu khi giải bằng phương pháp phần tử hữu hạn Phương pháp phần tử hữu hạn là cuối cùng đưa về giải phương trình toán học: K ' ' F' ( 1.1) Để phương trình này không có nghiệm tầm thường thì điều kiện định thức của ma trận [K’] khác 0 ( det [K’] khác 0 ), khi đó phương trình không suy biến.