ĐẶT VẤN ĐỀ Lao là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong cho ngƣời nhiễm virus gây suy giảm miễn dịch ở ngƣời (Human Immunodeficiency Virus, HIV) [59]. Việt Nam cũng là nƣớc có dịch tễ lao với 8,8 triệu ngƣời bệnh lao và 1,4 triệu ngƣời tử vong vì bệnh lao năm 2010 [68]. Trong hƣớng dẫn mới nhất về dự phòng lao cho ngƣời nhiễm HIV của Bộ Y tế năm 2015 có đƣa ra dự phòng bằng isoniazid (Isonicotinyl Hydrazin/Isoniazid, INH) trong 9 tháng với liều 300 mg/ngày. Phác đồ này đồng thuận với hƣớng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2011 (World Health Organization, WHO) [1, 61].
Phác đồ dự phòng lao bằng INH (Isoniazid Preventive Therapy, IPT) đã chứng minh khả năng làm giảm số trƣờng hợp mắc lao ở ngƣời nhiễm HIV đến 62% [59]. Mặc dù IPT hiệu quả cao nhƣng tác dụng phụ điển hình của INH là có khả năng gây viêm gan cấp tính [52]. Độc tính trên gan do INH làm giảm hiệu quả điều trị, đóng góp đáng kể vào sự không tuân thủ, và từ đó gây thất bại điều trị, tái phát hoặc kháng thuốc [34, 58]. Năm 2010, Trung tâm kiểm soát và dự phòng bệnh của Hoa Kỳ (Center for Diseasa of Control and Prevention, CDC) công bố 17 trƣờng hợp tổn thƣơng gan nghiêm trọng (5 trƣờng hợp tử vong, 4 trƣờng hợp phải cấy ghép gan) trong suốt giai đoạn 2004 – 2008.
Báo cáo này đã gây lại lo lắng về an toàn của INH [14]. Kể từ đó đã có nhiều nghiên cứu về độc tính trên gan liên quan đến IPT trên quần thể bệnh nhân nhiễm HIV nhƣng tỷ lệ độc tính trên gan giữa các nghiên cứu cũng khá dao động: Nghiên cứu tại Thái Lan với tỷ lệ 1,2% trƣờng hợp có độc tính trên gan [36]; nghiên cứu tại Brazil với tỷ lệ 0,008% trƣờng hợp gặp độc tính [25]; nghiên cứu tại Botswana với 1,1% trƣờng hợp độc tính [44]. Tuy vậy, chƣa có nghiên cứu nào nhằm tìm hiểu đầy đủ về độc tính trên gan của INH trên bệnh nhân nhiễm HIV tại Việt Nam. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Phân tích độc 1 Luan van thac si tính trên gan ở bệnh nhân nhiễm HIV có sử dụng phác đồ dự phòng lao bằng isoniazid tại phòng khám ngoại trú điều trị HIV/AIDS, Bệnh viện Bạch Mai” với 2 mục tiêu sau: 1.
Khảo sát đặc điểm độc tính trên gan của bệnh nhân nhiễm HIV sử dụng phác đồ dự phòng lao bằng isoniazid. Phân tích các yếu tố ảnh hƣởng lên sự xuất hiện của độc tính trên gan trong quá trình điều trị của bệnh nhân nhiễm HIV sử dụng phác đồ dự phòng lao bằng isoniazid. 2 Luan van thac si CHƢƠNG 1. Dự phòng lao ở ngƣời nhiễm HIV 1.
Lý do dự phòng lao ở người nhiễm HIV Để giảm thiểu gánh nặng do bệnh lao của ngƣời nhiễm HIV, WHO đã đề xuất khởi đầu sớm điều trị kháng retrovirus (antiretroviral therapy, ART). ART cũng đƣợc coi là một biện pháp can thiệp dự phòng lao ở ngƣời nhiễm HIV, nó giúp giảm đáng kể tỷ lệ lao và nguy cơ tiến triển bệnh lao. Mặc dù khởi đầu ART có thể làm giảm tới 80% nguy cơ bệnh lao nhƣng sau khi dùng ART, tỷ lệ lao vẫn cao [7]. Điều đó cho thấy rằng ngoài ART cần thêm các biện pháp can thiệp khác để dự phòng lao [29].
Báo cáo của WHO năm 2015 ƣớc tính có 9,6 triệu ngƣời mắc lao (trong đó 12% ngƣời nhiễm HIV) và 1,5 triệu ngƣời chết vì bệnh lao (trong đó 0,4 triệu ngƣời nhiễm HIV). Lao và HIV hiện vẫn đƣợc coi là nguyên nhân chính gây tử vong. Đồng thời, ngƣời nhiễm HIV có nguy cơ mắc lao lớn hơn 26 lần so với ngƣời không nhiễm HIV [65]. Chính vì vậy, WHO đã khuyến cáo dự phòng lao cho ngƣời nhiễm HIV và giảm thiểu ảnh hƣởng của đồng nhiễm lao và HIV là vấn đề hàng đầu kể từ năm 2004 và triển khai IPT với ngƣời nhiễm HIV đƣợc đƣa vào chƣơng trình hoạt động lao và HIV của WHO [66].
Toàn cầu có 49 quốc gia thực hiện IPT trong đó có Việt Nam. Có 933000 ngƣời nhiễm HIV đƣợc nhận IPT, tăng hơn 600000 so với 2013. Tuy nhiên, việc triển khai IPT vẫn còn thấp. 13 trong số 41 nƣớc có gánh nặng lao và HIV đã cung cấp IPT cho bệnh nhân HIV.
Nhƣng chỉ có 41% ngƣời nhiễm HIV mới đƣợc nhận dự phòng lao. Nam Phi có 1030000 ngƣời nhiễm HIV mới mắc thì chỉ có 552000 ngƣời đƣợc nhận IPT (53%) [65]. Đa phần ngƣời nhiễm HIV chƣa đƣợc chẩn đoán lao để nhận dự phòng. Việc phát hiện các trƣờng hợp mắc lao và điều trị lao giúp giảm thiểu lây truyền bệnh lao [60], làm giảm nguy cơ mắc bệnh và trì hoãn khả năng tử vong [22, 39].
Nhƣ vậy 3 Luan van thac si có thể nói chủ động chẩn đoán lao sẽ đem lại cơ hội điều trị dự phòng lao cho những ngƣời không có triệu chứng và dấu hiệu của bệnh lao. Hiệu quả của phác đồ dự phòng lao bằng isoniazid ở người nhiễm HIV Theo phân tích gộp của Christopher Akolo và cộng sự dựa trên 12 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng với 8578 bệnh nhân HIV cho thấy: tỷ lệ mắc lao ở nhóm bệnh nhân dùng thuốc chống lao thấp hơn 32% so với nhóm bệnh nhân dùng giả dƣợc (RR = 0,68; 95%CI = 0,54 – 0,85). Lợi ích của IPT đƣợc thể hiện nhiều hơn trên nhóm có phản ứng trên da dƣơng tính với tuberculin (tuberculin skin test, TST) (RR = 0,38; 95%CI = 0,25 – 0,57) so với nhóm có TST âm tính (RR = 0,89; 95%CI = 0,64 – 1,24). Đồng thời hiệu quả của tất cả các phác đồ tƣơng tự nhau (bất kể loại thuốc, tần suất, thời gian điều trị).
Tuy nhiên, trong số các phác đồ điều trị nhiễm lao tiềm ẩn, phác đồ dự phòng bằng INH là một phác đồ đƣợc khuyến cáo phổ biến và chỉ ra hiệu quả và an toàn trên ngƣời nhiễm HIV [4]. Các nghiên cứu vẫn tiếp tục đƣợc tiến hành để tối ƣu hóa phác đồ dự phòng lao. Kết quả từ 10 thử nghiệm lâm sàng với 10717 bệnh nhân của Surendra K. Sharman và cộng sự cho thấy phác đồ dự phòng bằng rifampicin trong thời gian ngắn hơn không chứng minh đƣợc hiệu quả ƣu việt so với IPT kéo dài trong 6 tháng.
Bệnh nhân nhận INH có tỷ lệ hoàn thành điều trị cao hơn và ít biến cố bất lợi hơn so với rifampicin. Phác đồ chứa rifampicin kết hợp INH trong thời gian ngắn hơn không thuận tiện bằng IPT. Phác đồ rifampicin kết hợp pyrazinamide liên quan đến nhiều biến cố bất lợi hơn. Phác đồ rifapentine và INH dùng trong thời gian ngắn hơn có tỷ lệ hoàn thành cao nhƣng có nhiều trƣờng hợp dừng điều trị vì nhiều biến cố bất lợi hơn so với IPT [51].
Phác đồ 4 tháng với rifampicin có tỷ lệ độc tính thấp hơn đáng kể so với phác đồ IPT kéo dài trong 9 tháng (tƣơng ứng 0,7% và 3,8%) [41]. 4 Luan van thac si Thời gian bảo vệ của IPT duy trì trong 18 tháng và cũng có thể kéo dài ít nhất trong 2,5 năm ở những khu vực có dịch tễ lao cao [30]. Theo WHO, tác dụng bảo vệ của IPT giảm dần theo thời gian và có thể kéo dài đến 5 năm [61]. Thời gian này còn phụ thuộc vào thời lƣợng phác đồ, sự tuân thủ của bệnh nhân, mức độ suy giảm miễn dịch.
Hiệu quả tối đa khi dùng phác đồ 9 tháng [1, 20] nhƣng kéo dài thời gian làm giảm tuân thủ của bệnh nhân [53]. INH có một số tác dụng phụ điển hình nhƣ mẫn cảm, rối loạn thần kinh ngoại biên, độc tính trên gan, nôn, buồn nôn, khô miệng, thiếu hụt vitamin B6, hạ đƣờng huyết, bí tiểu, hiện tƣợng đàn ông vú to [45]. Trong nghiên cứu do Molenbogeng X. Rangaka và cộng sự tiến hành tại Nam Phi với 1329 ngƣời tham gia cho thấy nguy cơ dừng thuốc do độc tính trên gan ở nhóm dùng INH có thể cao hơn nhóm dùng giả dƣợc nhƣng sự khác biệt này chƣa đạt đƣợc mức có ý nghĩa thống kê (RR = 1,9; 95%CI = 0,90 - 4,09).
Có thể thấy rằng bản thân ngƣời nhiễm HIV dù không dùng IPT đã có nguy cơ gặp độc tính trên gan. Rangaka và cộng sự cũng cho rằng việc áp dụng IPT cho bệnh nhân đang dùng ART có thể không làm tăng nguy cơ gặp độc tính trên gan [46]. Kết quả nghiên cứu của Zegabriel Tedla và cộng sự cũng cho rằng việc sử dụng thuốc ARV không làm tăng khả năng gặp độc tính trên gan [44]. Theo Betina Durovni và cộng sự, áp dụng IPT trên ngƣời nhiễm HIV thƣờng có tỷ lệ tuân thủ cao và tỷ lệ biến cố bất lợi thấp [24].
Hay nói cách khác kết quả từ các nghiên cứu nêu trên cho thấy IPT an toàn cho bệnh nhân HIV. Mặc dù IPT thể hiện đƣợc tính ƣu việt về hiệu quả và an toàn nhƣng việc áp dụng IPT vẫn còn gây một số lo ngại về khả năng phát sinh vi khuẩn lao kháng thuốc [8]. Tuy nhiên, trong hƣớng dẫn dự phòng lao năm 2011, WHO đã khẳng định IPT không làm tăng nguy cơ kháng thuốc [61]. Bên cạnh đó, kết quả từ nghiên cứu của Clare L.
Van Halsema và cộng sự cho thấy IPT 5 Luan van thac si không làm tăng nguy cơ kháng INH [57]. Trong phân tích gộp của Maria Elvira Balcells gồm 13 nghiên cứu với 18905 ngƣời ở nhóm dùng INH và 17985 ngƣời ở nhóm đối chứng cho thấy nguy cơ kháng INH ở nhóm dùng INH không khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (RR = 1,45; 95% CI = 0,85 – 2,47). Kết quả tƣơng tự cũng lặp lại trong phân tích phân nhóm trên những bệnh nhân HIV và ngƣời không nhiễm HIV [8]. Hướng dẫn điều trị dự phòng lao ở người nhiễm HIV của WHO và Bộ Y tế Việt Nam Theo Hƣớng dẫn điều trị dự phòng lao của WHO năm 2011, ngƣời nhiễm HIV cần đƣợc sàng lọc lao qua các triệu chứng ho, sốt, giảm cân, ra mồ hôi trộm.
Trƣờng hợp bệnh nhân không thể hiện các triệu chứng này thì đƣợc áp dụng phác đồ dự phòng lao. Nếu bệnh nhân có một hoặc nhiều triệu chứng thì tiếp tục đánh giá lao tiến triển và khi đã loại trừ mắc lao tiến triển thì bệnh nhân đƣợc nhận IPT. Những đối tƣợng nhiễm HIV đƣợc dùng IPT là ngƣời không mắc lao tiến triển và việc dự phòng lao không phụ thuộc vào mức độ suy giảm miễn dịch, tình trạng điều trị ARV, những ngƣời đã đƣợc điều trị lao trƣớc đó, phụ nữ mang thai và bất kể kết quả phản ứng TST [61]. Đối tƣợng dự phòng lao cho ngƣời nhiễm HIV của Bộ Y tế và WHO đồng thuận với nhau [1].