phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Đề án đƣợc đƣợc tổ chức thành 3 chƣơng. Cơ sở lí luận Chƣơng 2. Đặc điểm tổ chức thông tin trong DNQC tiếng Việt về nhà hàng ẩm thực (so sánh với tiếng Nhật) Chƣơng 3. Đặc điểm sử dụng phƣơng tiện biểu đạt trong DNQC tiếng Việt về nhà hàng ẩm thực (so sánh với tiếng Nhật) 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.
Diễn ngôn và phân tích diễn ngôn 1. Đ nh ngh diễn ngôn Khái niệm diễn ngôn đã xuất hiện trong nhiều lĩnh vực với nhiều ý nghĩa khác nhau. Nó đƣợc d ng để mô tả các hoạt động trong phạm vi có tính đan xen giữa các chuyên ngành có định hƣớng riêng nhƣ ngôn ngữ xã hội học, ngôn ngữ tâm lý học, ngôn ngữ triết học, ngôn ngữ điện toán, … Qua đó nhiều nhà khoa học đã đƣa ra nhiều định nghĩa về diễn ngôn theo các góc độ khác nhau nhƣ ngôn ngữ, văn hóa, văn học. Ngƣời đầu tiên đề xƣớng ra khái niệm này là Zellig Harris trong công trình ―Discourse Analysis‖ – Phân tích diễn ngôn (1952).
Diễn ngôn đƣợc hiểu với tƣ cách là một v n bản liên kết ở bậ o hơn âu. Thuật ngữ diễn ngôn với tƣ cách ―sản phẩm‖ trong việc sử dụng ngôn ngữ đƣợc hiểu rất rộng bao gồm tất cả các dạng tồn tại của nó, có thể là chữ viết dƣới mọi hình thức, có thể âm thanh tự nhiên khi nói hay mọi hình thức ghi âm lời nói. Foucault cho rằng: ―Thay vì giảm dần các nét nghĩa đã khá mơ hồ của từ diễn ngôn, tôi tin rằng thực tế tôi đã bổ sung thêm ý nghĩa của nó: lúc thì coi nó nhƣ một khu vực chung của tất cả các nhận định, lúc thì coi nó nhƣ một nhóm các nhận định đƣợc cá thể hoá, và đôi khi lại xem nó nhƣ một hoạt động đƣợc quy chuẩn (regulated practice) nhằm tạo nên một tập hợp các nhận định‖ [12, tr. Trong Dẫn nhập lý thuyết diễn ngôn của M.Foucault và nghiên c u v n học của Trần Văn Toàn, Foucault c ng lúc đƣa ra ba định nghĩa về diễn ngôn.
1) Diễn ngôn bao gồm ―tất cả các nhận định‖ nói chung. 2) Diễn ngôn nhƣ là ―một nhóm các nhận định đƣợc cá thể hoá‖. 3) Diễn ngôn ―nhƣ một hoạt động đƣợc quy chuẩn (regulated practice) nhằm tạo nên một tập hợp các nhận định‖ [12, tr. Mặc d ba định nghĩa của Foucault đƣợc liệt kê khá độc lập nhƣng trong thực tế nghiên cứu các định nghĩa này luôn đƣợc sử dụng xen kẽ nhau và định nghĩa này có thể bao tr m lên định nghĩa khác tuỳ theo hƣớng triển khai của ngƣời nghiên cứu.
Barthes coi diễn ngôn nhƣ là một đối tƣợng của ngôn ngữ học văn bản mà 8 ông đề nghị gọi là ―ngôn ngữ học diễn ngôn‖. Ông viết: ―…Diễn ngôn – tƣơng tự văn bản do ngôn ngữ học nghiên cứu, và chúng tôi sẽ định nghĩa nó (hãy còn là sơ bộ) nhƣ là một đoạn lời nói hữu tận bất kì, tạo thành một thể thống nhất xét từ quan điểm nội dung, đƣợc truyền đạt cùng với những mục đích giao tiếp thứ cấp, và có một tổ chức nội tại phù hợp với những mục đích này, vả lại (đoạn lời này) gắn bó với những nhân tố văn hoá khác nữa, ngoài những nhân tố có quan hệ đến bản thân ngôn ngữ‖ [3, tr 22-23]. Bellert cho rằng ―Diễn ngôn là chuỗi liên tục những phát ngôn S1 ., Sn, trong đó việc lý giải nghĩa của mỗi phát ngôn S1 (với 2 ≤ i ≤ n) lệ thuộc vào sự lý giải những phát ngôn trong chuỗi S1 …Si-1‖ [Dẫn theo Diệp Quang Ban, 2, tr. Ở Việt Nam, với công trình Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo củ v n bản, Diệp Quang an là một trong những tác giả tiêu biểu quan tâm và nghiên cứu diễn ngôn.
Trong tác phẩm này, ông đồng tình với định nghĩa của Cook: ―Diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ đƣợc nhận biết là trọn nghĩa, đƣợc hợp nhất lại và có mục đích‖ [2, tr. Tác giả Nguyễn Thiện Giáp, sau khi điểm qua một số quan điểm khác nhau về khái niệm văn bản và diễn ngôn, ông nêu: ―Thuật ngữ diễn ngôn và văn bản thƣờng đƣợc coi là đồng nghĩa với nhau để chỉ các sản phẩm của ngôn ngữ, viết hay nói, dài hay ngắn, tạo nên một tổng thể hợp nhất, trong đó diễn ngôn thƣờng đƣợc hiểu là bao hàm văn bản, còn văn bản thiên về sản phẩm viết nhiều hơn‖ [13, tr. Trong công trình nghiên cứu của mình, Nguyễn Hòa nhấn mạnh sự phân biệt hai khái niệm ―diễn ngôn‖ và ―văn bản‖. Theo ông, ― Văn bản nhƣ là sản phẩm ngôn ngữ ghi nhận lại quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp nói và viết trong một hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể‖.
Trong khi đó ―Diễn ngôn nhƣ là sự kiện hay là quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích không giới hạn đƣợc sự dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể‖ [20, tr. Mặc d đã đƣa ra sự phân biệt hai khái niệm nhƣ trên, song tác giả cũng thừa nhận rằng trên thực tế sự phân biệt này chỉ mang tính tƣơng đối vì theo cách hiểu đó, trong văn bản sẽ xuất hiện một vài đặc trƣng của diễn ngôn và ngƣợc lại trong diễn ngôn cũng nhiều khi tồn tại các thuộc tính văn bản. Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: ―Diễn ngôn là đơn vị lớn hơn câu, đúng 9 hơn là lớn hơn một phát ngôn, nó có thể là một phát ngôn mà cũng có thể do vô số phát ngôn hợp lại.‖; ―Nó phải có tính mạch lạc…‖ [6, tr. Tác giả cũng cho rằng, diễn ngôn có cả hình thức và nội dung nhƣng cả hai đều chịu tác dụng của ngữ cảnh.
Phân loại diễn ngôn Diễn ngôn có nhiều cách phân loại dựa trên các tiêu chí khác nhau nhằm giúp hiểu rõ hơn về cách sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp. Các phân loại chính bao gồm: - Dựa vào dạng tồn tại của ngôn ngữ: Có hai loại chính là diễn ngôn nói và diễn ngôn viết. - Dựa vào lĩnh vực tri thức: Diễn ngôn đƣợc chia thành nhiều loại nhƣ diễn ngôn chính trị, văn học, khoa học, tôn giáo, pháp lý. Mỗi loại diễn ngôn có đặc điểm riêng.
Ví dụ, diễn ngôn chính trị thƣờng chịu ảnh hƣởng bởi quyền lực và tôn ti xã hội, không đề cao cá nhân mà tập trung vào các vai xã hội và chiến lƣợc, trong khi diễn ngôn khoa học lại coi trọng đối thoại và bình đẳng tri thức giữa ngƣời phát và ngƣời nhận. - Dựa vào nội dung phát ngôn: Bao gồm các loại nhƣ diễn ngôn kì ảo, diễn ngôn về bệnh điên, diễn ngôn phù thuật. Mỗi loại diễn ngôn này có một mục đích và hình thức truyền tải riêng biệt, nhƣ diễn ngôn phù thuật mang tính tâm linh và củng cố niềm tin thông qua các biểu tƣợng văn hóa và tâm linh. - Dựa vào cấp độ: Gồm diễn ngôn và siêu diễn ngôn, với siêu diễn ngôn mang tính tạo lập một hệ tƣ tƣởng hoặc một phƣơng thức mới, ví dụ nhƣ Nho giáo hay Phật giáo.
- Dựa vào chủ thể diễn ngôn: Phân biệt diễn ngôn cá nhân và diễn ngôn tập thể, trong đó diễn ngôn của các tập thể thƣờng phi cá nhân, mang tính quy phạm hơn. - Dựa vào cấu trúc: Phân loại thành diễn ngôn độc lập, diễn ngôn phụ trợ và các diễn ngôn mang tính liên tục hoặc gián đoạn. - Dựa vào chức năng: Diễn ngôn có thể chia thành liên giao (trao đổi thông tin, dịch vụ) và liên nhân (thiết lập hoặc duy trì quan hệ xã hội). Những phân loại này giúp làm rõ vai trò và đặc điểm của diễn ngôn trong các bối cảnh khác nhau, từ giao tiếp hàng ngày đến các lĩnh vực chuyên môn.
Phân tích diễn ngôn Phân tích diễn ngôn là khái niệm ngôn ngữ học về kỹ thuật phân tích phát ngôn đƣợc phát triển trong những năm 1960 và đầu những năm 1970 ở Anh và Mỹ. Zellig Haris đã có bài nghiên cứu với đầu đề “Phân tí h iễn ngôn” ( is ourse analysis) [17. Harris quan tâm đến việc phân bổ các yếu tố ngôn ngữ trong văn bản và mối quan hệ giữa văn bản và hoàn cảnh xã hội. Đây là những nghiên cứu mở đƣờng cho lĩnh vực phân tích diễn ngôn sau này.
Trong khi đó Yule cho rằng đối tƣợng nghiên cứu của phân tích diễn ngôn là ngôn ngữ hành chức, nhấn mạnh đến chức năng và tính mục đích của các hình thức ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp: Phân tích diễn ngôn nhất thiết là sự phân tích ngôn ngữ hành chức [15]. Nhƣ vậy, không thể giới hạn phân tích diễn ngôn với việc miêu tả các hình thức ngôn ngữ mà không quan tâm đến mục đích hay chức năng mà các hình thức này tạo ra để đảm nhận trong thế giới hoạt động của con ngƣời. Diễn ngôn quảng cáo 1. Khái niệm quảng cáo Trong đề án này, chúng tôi tập trung vào việc phân tích diễn ngôn về quảng cáo nói chung, quảng cáo NH ẩm thực và thông tin thực tế về các NH ẩm thực, cụ thể là các NH có ở ba thành phố Việt Nam là Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh và Quy Nhơn.
Để hiểu khái niệm "quảng cáo", chúng ta có thể nhìn vào từ nguyên của từ này, bắt nguồn từ Hán tự: "廣" có nghĩa là "rộng, phổ biến" và "告" có nghĩa là "thông báo, tuyên bố". Nhƣ vậy, "quảng cáo" nghĩa là tuyên bố rộng rãi, thƣờng là về sản phẩm, dịch vụ hay sự kiện nhằm thu hút sự chú ý và thuyết phục ngƣời tiêu d ng hành động. Theo các định nghĩa chính: - Yeshin cho rằng quảng cáo là hình thức giao tiếp phi cá nhân, đƣợc trả tiền, nhằm truyền đạt thông tin và thay đổi hành vi ngƣời tiêu dùng [52]. - Luật Quảng cáo Việt Nam 2012 định nghĩa quảng cáo là việc sử dụng các phƣơng tiện để giới thiệu sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có hoặc không có mục đích sinh lợi [41].
11 - Kotler, nhấn mạnh rằng quảng cáo là hoạt động truyền bá thông tin có tính chất trả phí nhằm tuyên truyền sản phẩm, dịch vụ hoặc ý tƣởng [30]. Thông qua các định nghĩa trên, ta thấy quảng cáo có bản chất là phƣơng tiện truyền thông, có tính chất không trực tiếp, thƣờng là có trả phí và với mục tiêu thay đổi nhận thức hoặc hành vi của ngƣời tiêu dùng. Từ những định nghĩa trên chúng tôi quan niệm về quảng cáo nhƣ sau: Quảng cáo là phương tiện truyền bá thông tin nhằm mục đích tạo ra nhu cầu, xây dựng hình ảnh cho một đối tượng NH hoặc sản phẩm nhằm tiêu thụ hàng hóa, d ch vụ, thu lợi nhuận.