Chương 1 là chương Giới thiệu đã trình bày những lý do hình thành hướng nghiên cứu qua việc nghiên cứu bài toán quản lý tổng hợp tài nguyên nước, thực tiễn xây dựng, áp dụng DSS trong bài toán này trên thế giới và tại Việt Nam. Yêu cầu đặt ra nghiên cứu trong luận văn là xây dựng hệ hỗ trợ ra quyết định quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông, tập trung nghiên cứu ứng dụng các phương pháp phân tích đa tiêu chí hỗ trợ ra quyết định và áp dụng thử nghiệm phân tích cho quản lý tổng hợp tài nguyên nước bước đầu phát triển tại lưu vực sông Vu Gia – Hàn. Với yêu cầu đặt ra như vậy, luận văn tiếp theo sẽ nghiên cứu lý thuyết, công nghệ và công cụ phục vụ giải quyết bài toán. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 13 - CHƯƠNG 2.
NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT, CÔNG NGHỆ & CÔNG CỤ PHỤC VỤ GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN 2. Quản lý tổng hợp tài nguyên nƣớc 2. Tài nguyên nƣớc Tài nguyên nước là một thành phần gắn chặt với mức độ phát triển của xã hội loài người. Ở mỗi giai đoạn phát triển của khoa học công nghệ và tùy theo điều kiện cụ thể của từng quốc gia mà nguồn nước được khai thác theo nhu cầu và trình độ kỹ thuật nhất định.
Nước được coi là một dạng tài nguyên và luôn được bổ sung trong ngân quỹ nước của quốc gia. Tài nguyên nước là một thành phần không thể thiếu của những hệ sinh thái trên mặt đất. Sự biến đổi khí hậu toàn cầu và thải chất nhiễm bẩn vào bầu khí quyển cũng đã tác động vào tài nguyên nước và đe dọa các hệ sinh thái. Do vậy, việc nghiên cứu nước và hệ thống tài nguyên nước có tầm quan trọng đặc biệt không những đối với lưu vực sông, từng quốc gia mà còn là của toàn cầu.
Tóm lại, Nước là một tài nguyên bao gồm nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển thuộc lãnh thổ của một nước, một lưu vực, một vùng hay một địa phương [6]. Quản lý tổng hợp tài nguyên nƣớc Nước là một tài nguyên thiết yếu nhất đối với tất cả các khía cạnh liên quan đến sự phát triển của con người và hệ sinh thái trên lưu vực sông. Các tài nguyên khác như đất và các tài nguyên sinh thái cũng phụ thuộc và có mối liên quan mật thiết với tài nguyên nước trong quá trình sử dụng cũng như bảo tồn. Vì thế quản lý tài nguyên nước là một thành phần quan trọng của quản lý lưu vực sông và cần được quản lý theo đơn vị lưu vực.
Để quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước, tài nguyên nước nhất thiết phải được quản lý và sử dụng theo nguyên tắc tổng hợp, gọi tắt là quản lý tổng hợp tài nguyên nước. Cần hiểu rõ ba khái niệm trong quản lý tổng hợp tài nguyên nước, đó là: -“Quản lý” được hiểu bao gồm các hoạt động nhằm quản lý hữu hiệu tài nguyên nước, cả trong các hoạt động khai thác tài nguyên như đánh giá tài nguyên và quy hoạch phát triển, giải pháp và quá trình thực hiện, quản lý và vận hành hệ thống công trình, thực thi mạng giám sát và kiểm soát… -“Tổng hợp” cần được hiểu theo nghĩa là kết hợp giữa sử dụng và bảo vệ, giữa khai thác và phát triển bền vững, giữa các ngành dùng nước và các cấp dùng nước, giữa môi trường đất và môi trường nước, giữa môi trường tự nhiên sinh thái và môi trường kinh tế xã hội, giữa quá khứ, hiện tại và tương lai… - “Tài nguyên nước” phải được hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm các thành phần nước, việc sử dụng nước và những phản ứng nhạy cảm của nước đối với các hoạt động của con người. Đồng thời nói đến tài nguyên nước là bao gồm cả nước mưa, nước dòng chảy mặt và nước ngầm, cả số lượng nước và chất lượng nước. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 14 - Như vậy, Quản lý tổng hợp tài nguyên nước là một quá trình đẩy mạnh phối hợp phát triển và quản lý tài nguyên nước, đất và các tài nguyên liên quan để tối đa hóa lợi ích kinh tế xã hội một cách công bằng mà không phương hại đến tính bền vững của các hệ sinh thái thiết yếu [Tổ chức công tác nước toàn cầu (GWP), 2000].
Lƣu vực sông Nước trên bề mặt đất theo quy luật chung đều chảy từ nơi cao xuống nơi thấp, lâu ngày các đường chảy tạo thành sông suối. Mỗi một dòng sông đều có phần diện tích hứng nước và tập trung nước gọi là lưu vực sông. Một lưu vực sông có thể xem như một vùng địa lý được giới hạn bởi đường chia nước trên mặt và dưới đất. Đường chia nước trên mặt là đường nối các đỉnh cao của địa hình.
Nước từ đỉnh cao đó chuyển động theo hướng dốc của địa hình để xuống chân dốc, đó là các suối nhỏ rồi tập trung xuống các nhánh sông lớn hơn và chảy ra biển. Cứ thế chúng tạo thành mạng lưới sông. Trên lưu vực sông, ngoài các phần diện tích đất trên cạn còn có các phần đất chứa nước thuộc lòng chảy sông, hồ và các vùng đất ngập nước theo từng thời kỳ [6]. Quản lý tổng hợp tài nguyên nƣớc lƣu vực sông Trên lưu vực sông luôn tồn tại các mối quan hệ chặt chẽ giữa nước mặt và nước ngầm, giữa số lượng nước và chất lượng nước, giữa đất và nước và giữa vùng thượng lưu và hạ lưu.
Các mối quan hệ này làm cho lưu vực sông từ một vùng địa lý đã trở thành một hệ thống luôn kết dính với nhau. Như vậy, quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông là quản lý nguồn nước và các thành phần liên quan đến nước trên quy mô toàn lưu vực [6]. Các nguyên tắc, nội dung 1. Các nguyên tắc Hiện nay, có thể coi 4 nguyên tắc được thảo luận và thống nhất trong hội nghị về Nước và Môi trường năm 1992 tại Dubin (gọi tắt là nguyên tắc Dubin) là những nguyên tắc nền tảng của quản lý tổng hợp tài nguyên nước: Nguyên tắc 1: Nước ngọt là tài nguyên hữu hạn không tài nguyên nào có thể thay thế được, rất thiết yếu để duy trì cuộc sống, phát triển và môi trường.
Nguyên tắc này mở ra một phương pháp tiếp cận mới trong quản lý nước, đó là phải xem xét tất cả các đặc tính của chu trình thủy văn cũng như các tương tác của nước với các tài nguyên khác và hệ sinh thái. Nguyên tắc 2: Phát triển và bảo vệ tài nguyên nước phải dựa trên phương pháp tiếp cận có sự tham gia của tất cả các thành phần bao gồm những người dừng nước, người lập quy hoạch và người xây dựng chính sách ở tất cả các cấp. Trong quản lý nước truyền thống không chú trọng đến sự tham gia của các thành phần, nhất là người dùng nước. Nguyên tắc này đưa ra một cách tiếp cận mới về mặt quản lý có tính quyết định để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng nguồn nước, trong đó vai trò của người dùng nước cũng được coi trọng như những người lập quy hoạch và xây dựng các chế độ chính sách về nước.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 15 - Nguyên tắc 2 nhằm nhấn mạnh cần có sự tham gia thật sự của các thành phần liên quan là một phần của quá trình ra quyết định. Sự tham gia thật sự của các thành phần có liên quan ở mọi cấp của xã hội đều phải có tác động trong việc ra quyết định chứ không dừng ở việc hỏi ý kiến đơn thuần. Tham gia không có nghĩa là luôn luôn thống nhất mà cũng có lúc nảy sinh mâu thuẫn và phải có cơ chế để giải quyết các mâu thuẫn đó. Nguyên tắc 3: Phụ nữ có vai trò trung tâm trong việc cung cấp, quản lý và bảo vệ nguồn nước.
Người phụ nữ có vai trò chủ yếu trong việc lấy nước và bảo vệ nguồn nước dùng cho sinh hoạt gia đình và cho sản xuất nông nghiệp. Nguyên tắc 3 nhấn mạnh vai trò của phụ nữ và chỉ rõ cần phải có những cơ chế thích hợp để nâng cao khả năng tiếp cận của phụ nữ tới quá trình ra quyết định, mở rộng những phạm vi cho người phụ nữ có thể tham gia vào quản lý tổng hợp tài nguyên nước. Nguyên tắc 4: Nước có giá trị kinh tế trong mọi hình thức sử dụng và cần phải được xem như một loại hàng hóa có giá trị kinh tế. Trong quản lý tổng hợp tài nguyên nước cần phải tính toán đầy đủ giá trị của nước bao gồm giá trị kinh tế và giá trị nội tại của tài nguyên nước và phải tạo cơ chế cho người dùng nước có đủ khả năng sử dụng nước và trả đủ các chi phí cho việc mua nước cũng như trách nhiệm của họ trong việc bảo vệ nguồn nước.
Các nội dung Nội dung quản lý tổng hợp tài nguyên nước cần phải xem xét hai hệ thống chủ yếu, đó là hệ thống tự nhiên và hệ thống nhân văn. Hệ thống tự nhiên với đặc trưng chủ yếu là số lượng và chất lượng của các tài nguyên tự nhiên như nước, đất, không khí và các tài nguyên sinh học, là đầu vào quan trọng cho hệ thống nhận văn khai thác và sử dụng. Quản lý hệ thống tự nhiên là quản lý nguồn cung cấp tài nguyên, còn quản lý hệ thống nhân văn là quản lý việc sử dụng nguồn tài nguyên tự nhiên, với tài nguyên nước là quản lý việc sử dụng nước [6]. Quản lý tổng hợp trong hệ thống tự nhiên bao gồm: (1) Quản lý tổng hợp nước và đất: Nước và đất là hai thành phần của môi trường tự nhiên có mối liên quan và tác động với nhau trong quá trình diễn ra của tự nhiên.
Vì thế việc quản lý sử dụng nước không thể tách rời với quản lý sử dụng đất và các biện pháp canh tác trên đất nông nghiệp, nhất là việc quản lý các lưu vực nhỏ để bảo vệ đất chống xói mòn. - Nước sử dụng trực tiếp của con người như nước trong sông, hồ và nước ngầm. (3) Quản lý tổng hợp nước mặt và nước ngầm: Tài nguyên nước của lưu vực bao gồm cả nước mặt và nước ngầm, việc khai thác quá mức nước mặt hay nước ngầm cũng ảnh hưởng đến thành phần còn lại. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 16 - (4) Quản lý tổng hợp số lượng và chất lượng nước: Ô nhiễm nước có thể làm suy giảm nhanh chóng nguồn nước sạch mà con người sử dụng.
Vì thế trong quản lý tổng hợp tài nguyên nước không những chú ý quản lý số lượng nước mà còn phải chú trọng đến quản lý và bảo vệ chất lượng nước.