phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận của việc nghiên cứu nghĩa của từ đa nghĩa. Chƣơng 2: Đặc điểm đa nghĩa danh từ Anh - Việt từ kết quả phân tích đối chiếu định lƣợng. Chƣơng 3: Phân tích, đối chiếu định tính danh từ đa nghĩa Anh - Việt và cách thức chuyển dịch Anh ra Việt. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU NGHĨA CỦA TỪ ĐA NGHĨA 1.
Nghĩa của từ 1. Khái niệm nghĩa của từ Nghĩa của từ là một khái niệm phức tạp và khó xác định. Cho đến nay có đến hàng trăm cách hiểu khác nhau về nghĩa của từ. Ý kiến khác nhau có nhiều.
Chúng tôi thử tạm chấp nhận một cách hiểu sơ bộ làm cơ sở cho việc nghiên cứu ở luận văn này. Nhìn một cách đại thể có thể hiểu nghĩa là một thực thể tinh thần tồn tại trong mọi cấp độ của ngôn ngữ, đặc biệt trong từ vựng. Trong ngôn ngữ học, nghĩa của từ là một trong những khái niệm quan trọng nhất. Khái niệm này đã đƣợc khá nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới cũng nhƣ ở Việt nam quan tâm.
Một số ngƣời cho rằng nghĩa của từ là sự vật hay hiện tƣợng do từ biểu thị. Chẳng hạn, từ nhà là bản thân cái nhà có trong thực tế, từ đẹp, xấu là tính chất tƣơng ứng của nó. Quan điểm thứ hai rất phổ biến về nghĩa của từ là đồng nhất nghĩa với khái niệm logic hay biểu tƣợng tâm lí có liên quan đến từ ấy. Tiêu biểu quan điểm này là A.
Những ngƣời theo quan điểm này cho rằng nghĩa của từ là khái niệm, biểu tƣợng, tức là nghĩa của từ gắn liền với tƣ tƣởng của ngƣời nói và nghĩa đƣợc xem là toàn bộ các nội dung biểu tƣợng đƣợc biểu hiện bằng hình thức ngữ âm của từ. Cách hiểu thứ ba về nghĩa của từ là quy nó về mối quan hệ giữa từ và đối tƣợng. Arlomov: “nghĩa của từ là sự lệ thuộc của nó với sự vật, hiện tƣợng của thế giới hiện thực”. Tƣơng tự nhƣ thế, A.
Chikobava định nghĩa: “nghĩa của từ là mối liên hệ giữa từ với sự vật của thực tế”. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quan điểm thứ tƣ cũng cho nghĩa của từ là quan hệ nhƣng không phải quan hệ giữa từ và đối tƣợng mà là quan hệ giữa từ và khái niệm, biểu tƣợng. Budagov phát biểu: “Nghĩa của từ là mối liên hệ đƣợc hình thành về mặt lịch sử giữa âm thanh của từ và sự phản ánh của sự vật hoặc hiện tƣợng, sự phản ánh đó nảy sinh trong nhận thức của chúng ta” (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp, [20, 120]). Golovin cũng có cái nhìn tƣơng tự: “.sự thống nhất của sự phản ánh vỏ vật chất của từ và sự vật tƣơng ứng chúng tôi gọi là nghĩa”(Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp, [20, 120]).
Quan niệm này bắt nguồn từ học thuyết của F. Ông cho rằng nghĩa là quan hệ giữa cái biểu hiện (significant) và cái đƣợc biểu hiện (signifié). Trên cơ sở đó, St. Ullman – nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Pháp nổi tiếng lí giải nghĩa của từ chính là mối liên hệ liên tƣởng giữa âm thanh của từ (name) và nội dung khái niệm(sense) của nó.
Cùng với sự ra đời của chủ nghĩa cấu trúc hiện đại, nghĩa của từ lại đƣợc quan niệm là mối quan hệ giữa các từ với nhau. Apresjan, “ Nội dung ngữ nghĩa của từ không phải là cái gì tự thân. Nó hoàn toàn đƣợc quy định bởi nhƣng mối quan hệ đƣợc hình thành trong hệ thống những sự đối lập của từ này với từ khác cũng thuộc trƣờng từ ấy”. Những nhà ngôn ngữ học mô tả Mĩ quan niệm “phân bố theo nghĩa rộng” chính là nghĩa của từ.
Họ xem nhƣ miêu tả nghĩa của từ thực chất là miêu tả sự phân bố của nó. Trong khi đó, những ngƣời theo thuyết chức năng mà đại diện nổi tiếng của họ là Wittgenstein và J. Rile lại cho nghĩa của từ là chức năng, là vai trò từ đảm nhận trong ngôn ngữ. Nhƣ vậy, có nhiều cách lý giải khác nhau về khái niệm nghĩa của từ.
Ở Việt Nam cũng vậy. Theo Nguyễn Văn Tu [51, 105], “Nghĩa từ vựng của từ đƣợc quy định bằng những yếu tố tác động lẫn nhau nhƣ: a) thuộc tính đối tƣợng. b) khái niệm về đối tƣợng. c) hệ thống ngôn ngữ giúp cho việc diễn đạt 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Nguyễn Thiện Giáp khi nghiên cứu về nghĩa của từ ông thấy nổi lên hai khuynh hƣớng: Thứ nhất, cho nghĩa của từ là một bản thể nào đó (đối tƣợng, khái niệm, sự phản ánh…).
Thứ hai, cho nghĩa của từ là một quan hệ nào đó (quan hệ của từ với đối tƣợng hoặc quan hệ của từ với khái niệm…). Hoàng Văn Hành trong công trình Từ ngữ tiếng Việt trên đường hiểu biết và khám phá [23] ông có đề cập đến cách tiếp cận hệ thống từ vựng từ góc độ ngữ nghĩa học. Tác giả chấp nhận cách hiểu nghĩa theo cách hiểu “phản ánh của hiện thực khách quan vào ý thức và đƣợc thể hiện trong ngôn ngữ” của A.Smirnixki và áp dụng phƣơng pháp phân tích thành tố để xác định cấu trúc nghĩa từ vựng của từ”. Hoàng Phê trong tác phẩm Logic – ngôn ngữ học đã đƣa ra quan niệm rất xác đáng: 1) Ngữ nghĩa quan hệ trực tiếp với nhận thức và qua nhận thức quan hệ với hiện thực nhờ đó ngôn ngữ thực hiện chức năng chủ yếu của nó là công cụ tƣ duy và công cụ giao tiếp [36, 2].
2) Nghĩa của từ cần đƣợc nghiên cứu trong mối quan hệ nhiều mặt, không những trong quan hệ với nhận thức và với hiện thực, mà còn quan hệ với cấu trúc nội tại, cũng nhƣ trong quan hệ hệ thống và quan hệ tổ hợp với những nghĩa từ khác trong ngữ, trong câu, trong lời” [36]. Cũng có những điểm tƣơng đồng nhƣ Hoàng Phê trong cách nhìn nhận về nghĩa, Lê Quang Thiêm cho rằng nghĩa của ngôn ngữ thể hiện trong mọi hình thức tồn tại của tín hiệu nên ngữ nghĩa học và nghĩa của tín hiệu phải đƣợc xem xét ở loại đơn vị có thuộc tính tín hiệu. Nghĩa có đƣợc là do con ngƣời, con ngƣời cấu tạo và sử dụng nhƣ một loại phƣơng tiện, công cụ nên quan điểm chức năng phải đƣợc xem là nòng cốt trung tâm của kiến giải nghĩa. Hơn nữa, 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mỗi loại nghĩa đều thể hiện trong quan hệ với chức năng và toàn bộ các loại nghĩa thuộc các loại hình thức của biểu thức trong ngôn ngữ.
Từ đó, ông đã đề xuất một cách hiểu về nghĩa: “Nghĩa là một thực thể tinh thần trừu tƣợng tồn tại trong mọi biểu hiện, cấp độ của ngôn ngữ thực hiện chức năng công cụ của giao tiếp và tƣ duy cũng nhƣ mọi loại chức năng cụ thể đa dạng khác, đặc biệt là trong lời nói, trong văn bản, trong diễn ngôn” [46, 19]. Nhìn chung, để chọn cơ sở làm việc chúng tôi chấp nhận nghĩa của từ có thể đƣợc hiểu một cách khái quát nhƣ sau: Nghĩa của từ là nội dung tinh thần mà từ biểu hiện, nó đƣợc hình thành do sự kết hợp của nhiều nhân tố. Trong số đó có những nhân tố nằm ngoài ngôn ngữ và những nhân tố nằm trong ngôn ngữ. Nhân tố ngoài ngôn ngữ nhƣ sự vật, hiện tƣợng trong thực tế khách quan, tƣ duy và ngƣời sử dụng.
Nhân tố trong ngôn ngữ nhƣ chức năng tín hiệu học, hệ thống (cấu trúc) của ngôn ngữ. Trên cơ sở đó, chúng ta có thể xác lập, phân tích, xác định nội dung, dung lƣợng, kiểu loại nghĩa của từ và nhờ đó ta có thể so sánh đối chiếu nghĩa của từ trong ngôn ngữ này với từ tƣơng ứng trong ngôn ngữ khác để tìm ra sự tƣơng đồng, dị biệt, cũng nhƣ chuyển dịch tƣơng ứng. Các kiểu loại nghĩa từ vựng trong từ Trong lịch sử ngữ nghĩa học, các nhà nghiên cứu đã có khá nhiều kiến giải khác nhau về nghĩa của từ. Ngƣời ta đã phân chia nghĩa của từ thành nhiều loại.
Trên quan điểm lịch đại, ngƣời ta cho rằng: nghĩa có nghĩa gốc và nghĩa phái sinh. Nghĩa gốc là nghĩa đầu tiên, nghĩa vốn có ban đầu của từ. Nghĩa phái sinh là nghĩa có sau, chúng đƣợc tạo nên trên cơ sở nghĩa gốc. Nghĩa này đƣợc sinh ra nhờ quá trình sử dụng sáng tạo của ngƣời dùng trong quá trình tồn tại của từ đó.
Trên quan điểm đồng đại, ngƣời ta phân chia nghĩa thành nghĩa cơ bản – nghĩa không cơ bản, nghĩa đen – nghĩa bóng, nghĩa độc lập – nghĩa phụ thuộc văn cảnh. Nghĩa đen là nghĩa có chứa nhiều nét nghĩa khái quát, phạm trù, 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gắn với các dấu hiệu của hiện thực. Nghĩa bóng là nghĩa chứa nhiều nét nghĩa khu biệt, gắn với hình tƣợng, biểu trƣng hoá. Chúng ta đều biết rằng, một từ có thể có một hoặc nhiều nghĩa.
Khi một từ có nhiều hơn một nghĩa thì các nghĩa có quan hệ với nhau, đƣợc sắp xếp theo tổ chức cơ cấu nhất định. Trong từng nghĩa của mỗi từ cũng vậy, chúng gồm những thành tố nhỏ hơn có thể phân tích và cũng đƣợc sắp xếp theo một tổ chức nào đó. Đỗ Hữu Châu phân chia nghĩa của từ dựa theo đặc điểm nội dung ngữ nghĩa của từ. Một từ sẽ có ý nghĩa nào đó tuỳ chức năng mà từ đó đảm nhận.
Từ có tính chất liên quan đến khái niệm thì từ đó mang nghĩa biểu niệm, liên quan đến sự vật, hiện tƣợng, thì mang nghĩa biểu vật. Theo ông nghĩa của từ có bốn loại ngữ nghĩa cơ bản sau: Ý nghĩa biểu vật (ứng với chức năng biểu vật). Ý nghĩa biểu niệm (ứng với chức năng biểu niệm). Ý nghĩa biểu thái (ứng với chức năng biểu thái).
Ý nghĩa ngữ pháp (ứng với chức năng ngữ pháp). Nhƣ vậy, có thể nói cách phân chia này dựa theo đặc điểm nội dung, dựa vào chức năng định danh mà ông chƣa quan tâm nhiều tới tính cấu trúc hệ thống. Trong nghiên cứu của mình ông quan tâm chú ý nhiều phân tích nghĩa của từ, song chủ yếu chỉ là thực từ (từ miêu tả) và có thể nói nghĩa từ vựng ở đây chỉ giới hạn ở nghĩa miêu tả. Một cách nhìn khác hơn, sâu hơn về nghĩa của từ là dựa trên nhân tố các mối quan hệ của nó để phân loại nghĩa của từ.
Nguyễn Thiện Giáp đồng quan điểm với nhiều nhà nghiên cứu, cho rằng nghĩa của từ là một loạt các quan hệ của từ với các hiện tƣợng khác.