Chương 1 giới thiệu cơ sở hình thành dự án và đề tài, đưa ra mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và phạm vi thực hiện. Chương 2 phân tích tình hình phát triển điện gió ở Việt Nam. Chương 3 mô tả chi tiết dự án nhà máy điện gió Thanh Phong và trình bày khung phân tích sử dụng trong phân tích tài chính và kinh tế. Chương 4 phân tích hiệu quả kinh tế của dự án.
Chương 5 phân tích tài chính và phân tích phân phối. Chương 6 là kết luận và đưa ra các khuyến nghị chính sách. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN ĐIỆN GIÓ Ở VIỆT NAM Chương 2 sẽ khái quát bức tranh điện gió ở Việt Nam, từ tiềm năng gió, cơ chế hỗ trợ đến tình hình thực hiện các dự án đầu tư cũng như những khó khăn mà các dự án gặp phải. Tiềm năng điện gió Sức gió là “nguyên liệu” quan trọng nhất để sản xuất điện gió, các số liệu đo gió tin cậy sẽ tăng độ an toàn cho các tính toán tài chính của dự án.
Cả nước có khoảng 150 trạm khí tượng thủy văn có thực hiện đo gió, các số liệu này có tính dài hạn và rộng khắp cả nước nhưng không phù hợp vì độ cao đo chỉ 10m và được đọc 4 lần/ngày, trong khi số liệu cần cho đánh giá tiềm năng điện gió tốt nhất là được đo từ 60 – 100 m và có bộ cảm biến ghi nhận suốt 24 giờ/ngày. Hiện nay đã có 3 nghiên cứu đánh giá tài nguyên gió do World Bank (2001), EVN (2007) và Bộ Công thương (2011) thực hiện và công bố. Các kết quả được tóm tắt tại Bảng 2. Tóm tắt các kết quả nghiên cứu đánh giá tiềm năng điện gió ở Việt Nam Độ cao Tiềm năng Phƣơng pháp Phân bố Đánh giá (m) điện (MW) Dùng số liệu từ Tây Nguyên, Do dùng mô các trạm thủy duyên hải hình mô phỏng World văn để ngoại suy 65 513.360 Nam Trung nên các chuyên Bank10 và chạy mô hình Bộ và Nam gia đánh giá là mô phỏng.
quá lạc quan. Quảng Bình, Phạm vi khảo Đo gió tại 12 Bình Định, sát nhỏ, có thể điểm trong vòng EVN11 60 1.785 Ninh Thuận bỏ qua những 1 năm, tập trung và Bình khu vực tiềm ven biển. 10 World Bank (2001, tr.17) 11 EVN (2007), trích trong Phan Thanh Tùng, Vũ Chi Mai và Angelika Wasielke (2012, tr.7 ) 7 Độ cao Tiềm năng Phƣơng pháp Phân bố Đánh giá (m) điện (MW) Đo gió ở 3 điểm Được đánh giá trong vòng 2 Bộ Công là thận trọng năm, cập nhật lại 80 26.000 thương12 hơn bản đồ năm bản đồ gió năm 2001. Các kết quả cho thấy Việt Nam có thể phát triển điện gió quy mô công nghiệp.
Tuy nhiên, sự khác biệt quá lớn trong các kết quả chứng tỏ các số liệu trên chưa thật sự tin cậy, chỉ mang tính tham khảo. Dự án Năng lượng gió GIZ (GIZ hợp tác cùng Bộ Công thương) đã thực hiện một chương trình đo gió ở độ cao 80m, áp dụng theo các quy chuẩn châu Âu, nên các dữ liệu gió được kỳ vọng là đáng tin cậy hơn. Tuy nhiên, dữ liệu này chưa công bố, chỉ sử dụng nội bộ trong GIZ và Bộ Công thương. Hiện nay, các nhà đầu tư phải tự lắp tháp đo gió để đánh giá chính xác hơn sức gió tại địa điểm đầu tư, làm tăng chi phí thời gian (ít nhất 12 tháng) và tài chính, giảm sức hấp dẫn của các dự án điện gió.
Cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió Phát triển NLTT nói chung và điện gió nói riêng là xu hướng chung mà các quốc gia đang hướng đến để đảm bảo nguồn cung điện năng bền vững và giảm thiểu tác động đến môi trường. Tham khảo tình hình phát triển điện gió trên thế giới tại Phụ lục 2. Tuy nhiên, chi phí đầu tư cho điện gió rất lớn, mà giá điện trên thị trường cạnh tranh thì chưa phản ánh những lợi ích môi trường và xã hội của nguồn điện sạch này nên ngày càng có ít các dự án điện gió. Do đó, cần có sự can thiệp của Chính phủ thông qua các chính sách ưu đãi để bù đắp cho các lợi ích chưa được tính vào trong giá điện tài chính.
Quyết định 37/2011/QĐ-TTg về Cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam có nhiều ưu đãi về sử dụng đất, huy động vốn, thuế, phí và quan trọng nhất là quy định EVN phải mua toàn bộ lượng điện sản xuất ra thông qua Hợp đồng mua bán điện mẫu thời hạn 20 năm với giá 7,8 cents/kWh. Cụ thể các ưu đãi được tóm tắt tại hộp 1. 12 Vietnam Ministry of Industry and Trade (2011, tr. Cơ chế hỗ trợ các dự án điện gió13 Giai đoạn phát triển dự án 1.
Huy động vốn: nhà đầu tư được huy động vốn dưới các hình thức pháp luật cho phép; ưu đãi theo quy định hiện hành về tín dụng đầu tư của Nhà nước. Thuế nhập khẩu: miễn thuế Giai đoạn vận hành 3. Giá mua điện: 7,8 cents/kWh, được điều chỉnh theo biến động VNĐ/USD EVN: 6,8 cents/kWh Quỹ BVMTVN: 1 cent/kWh 4. Thuế TNDN: áp dụng như lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư Thuế suất: 10% trong 15 năm Miễn thuế 4 năm, giảm 50% số tiền thuế phải nộp cho 9 năm tiếp theo.
Tiền sử dụng đất, thuê đất: miễn phí 2. Tình hình các dự án đầu tƣ Việt Nam bắt đầu quan tâm phát triển điện gió quy mô lớn từ cuối những năm 1990, thông qua xây dựng và phê duyệt các dự án đầu tiên như nhà máy điện gió Tu Bông 1 – Khánh Hòa (1996, 10 MW), điện gió Tu Bông 2 – Khánh Hòa (1998, 20MW), điện gió Phương Mai – Bình Định (1998, 30 MW), điện gió Bạch Long Vỹ (2000, 0,8 MW), điện gió cửa Tùng (2001, 20 MW)14, điện gió Lý Sơn (2007, 10 MW)15. Trong đó, dự án điện gió Bạch Long Vỹ khánh thành vào tháng 8/2004 nhưng vận hành chưa đến 2 năm thì ngừng hoạt động, do sau khi hết thời gian bảo hành, bộ phận kỹ thuật của Việt Nam không nắm được công nghệ, thiết bị hư hỏng không thể sửa chữa16. Các dự án còn lại đều không triển khai chủ yếu do không thỏa thuận được giá bán điện với EVN.
13 Có tham chiếu đến các văn bản pháp luật liên quan được đề cập trong Quyết định 37/2011/QĐ-TTg 14 Vũ Mạnh Hà (2007) 15 BTK (2007) 16 Trang tin điện tử ngành điện (2008) 9 Sau khi Cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió được ban hành thì số lượng dự án đăng ký đầu tư tăng lên đáng kể. Đến nay, cả nước có 75 dự án đăng ký ở 18 tỉnh với tổng công suất khoảng 7.475 MW, trong đó có 20 dự án của nhà đầu tư nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài17. Ninh Thuận và Bình Thuận được xem là thủ phủ điện gió của cả nước với số dự án đăng ký ở mỗi tỉnh lần lượt là 21 và 16 dự án. Danh sách các dự án cụ thể xem tại Phụ lục 3.
Tuy nhiên, hiện tại chỉ có 3 dự án đã đi vào vận hành thương mại là điện gió Tuy Phong (30 MW), Phú Quý (6 MW) và Bạc Liêu (16 MW) với tổng công suất là 52 MW. Sau khi nhà máy điện gió Bạc Liêu hoàn thành giai đoạn 2, bổ sung thêm 83 MW trong 1-2 năm sắp tới thì công suất điện gió cả nước cũng chỉ mới đạt 135 MW. Các dự án còn lại đa số đều dưới dạng dự án đầu tư hay đã khởi công nhưng phải gián đoạn vì nhiều lý do như chờ tăng giá mua điện, chưa sắp xếp được vốn, thay đổi thiết kế. Một số khác thì chủ đầu tư rút lui do nhận thấy giá điện chưa thật sự hấp dẫn hay kết quả đo gió không đạt yêu cầu.
Ngoài ra, tại đảo Trường Sa còn có hệ thống điện lai ghép năng lượng gió – mặt trời do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) tài trợ, vận hành từ năm 2009 với công suất phát điện khoảng 6,2 MWh/ngày. Tình trạng của các dự án điện gió được tổng hợp tại Phụ lục 4. Đối với 3 dự án đang vận hành thương mại, mỗi dự án đều có thuận lợi đặc thù. Chủ đầu tư của dự án điện gió Tuy Phong là Công ty cổ phần NLTT Việt Nam do một số thành viên của Viện Năng lượng sáng lập nên có chuyên môn nhất định trong lĩnh vực điện gió, dễ dàng nắm bắt công nghệ hơn.
Ngoài ra, dự án sử dụng tháp gió sản xuất trong nước, giúp tiết kiệm được 30% chi phí so với tháp gió nhập khẩu18. Dự án điện gió Phú Quý được mua điện với giá cao hơn vì ở ngoài đảo19. Hơn nữa, quy mô dự án nhỏ, tổng vốn đầu tư nằm trong khả năng thu xếp của PVN. Dự án điện gió Bạc Liêu thì được vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng xuất nhập khẩu Hoa Kỳ và giá bán điện là 9,8 cents/kWh vì xây dựng trên biển.
17 Phan Thanh Tùng, Vũ Chi Mai và Angelika Wasielke (2012, tr.18 ) và cập nhật của tác giả đến 4/2015 18 Tia sáng (2012) 19 Phan Thanh Tùng, Vũ Chi Mai và Angelika Wasielke (2012, tr. Các khó khăn trong đầu tƣ phát triển điện gió Tuy điện gió nhận được sự hỗ trợ lớn từ chính sách nhưng do đây là một ngành mới ở Việt Nam nên vẫn vấp phải những trở ngại nhất định từ sự chưa sẵn sàng của các lĩnh vực hỗ trợ, huy động vốn đến quy hoạch ngành.2 trình bày tóm tắt các khó khăn này. Các khó khăn trong đầu tư phát triển điện gió Khó khăn Diễn giải Thiếu số liệu đo Như phân tích tại mục 2.1 gió tin cậy Chưa có công Turbine gió và tháp gió hầu hết là nhập khẩu nên chi phí cho thiết nghệ trong nước bị rất cao. Việt Nam chỉ có 1 nhà máy sản xuất tháp gió20.
Các đơn vị tư vấn ở Việt Nam chỉ mới thực hiện việc đo gió và lập báo cáo đầu tư. Các tư vấn về thiết kế kỹ thuật và thi công đa số Thiếu lao động phải thuê chuyên gia nước ngoài. Các trường học chưa có chương có chuyên môn trình đào tạo về năng lượng gió nên việc quản lý, vận hành, bảo dưỡng nhà máy gặp nhiều trở ngại21. Khi có sự cố phải chờ chuyên gia từ nước ngoài, vừa mất nhiều thời gian vừa tốn chi phí cao.
Vận chuyển những thiết bị siêu trường, siêu trọng như turbine gió, tháp gió gặp nhiều khó khăn do đường nhỏ, cầu yếu, nhiều khúc Cơ sở hạ tầng cua, dốc,. Có những vùng có tiềm năng gió cao nhưng giao thông kém bất lợi, không thể triển khai dự án hoặc phải tăng chi phí để gia cố hạ tầng22.