ĐẶT VẤN ĐỀ Thalassemia là một bệnh lý di truyền phổ biến trên toàn thế giới, đặc trưng bởi tình trạng thiếu máu do rối loạn quá trình tổng hợp hemoglobin. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, có khoảng 7% dân số thế giới mang gen Thalassemia.000 trẻ được sinh ra mắc bệnh sắc tốt thì có đến 17% là bệnh Thalassemia [1, 2]. Nguyên nhân gây bệnh là do đột biến gen quy định tổng hợp chuỗi globin trên nhiễm sắc thể số 16 (gen alpha-globin) hoặc nhiễm sắc thể số 11 (gen beta-globin), dẫn đến sự mất cân bằng các phân tử hemoglobin và thiếu hụt hemoglobin, gây ra hiện tượng tan máu. Trong những năm gần đây, các kỹ thuật di truyền học phân tử như kỹ thuật PCR, Strip Assay được ứng dụng rộng rãi trong chẩn đoán phân tử, giúp phát hiện sớm các đột biến gen ở người mang gen, tư vấn và quản lý hiệu quả.
Bên cạnh đó, định lượng ferritin máu được sử dụng rộng rãi để theo dõi điều trị thải sắt, và kỹ thuật cộng hưởng từ (MRI) ngày càng được ứng dụng nhiều hơn do có khả năng đánh giá chính xác hơn mức độ quá tải sắt trong các tổ chức. Đi đôi với việc ứng dụng các công nghệ cao trên chính là gia tăng chi phí điều trị trực tiếp, tạo sức ép lên bệnh nhân và gây khó khăn cho cơ sở điều trị. Theo Phòng Kế hoạch tổng hợp của Bệnh viện Truyền máu - Huyết học TP Hồ Chí Minh, hiện số lượng người mắc bệnh Thalassemia - thiếu máu di truyền đang tăng cao và luôn chiếm vị trí hàng đầu trong tổng số bệnh máu đến khám và điều trị tại Bệnh viện Truyền máu - Huyết học TP HCM. Trong đó, bệnh nhi chiếm đa số.
Hằng năm tiếp nhận và điều trị nội trú cho từ 800 - 1.000 lượt bệnh nhi mắc Thalassemia. Có trường hợp bệnh nhân phải chi trả chi phí của điều trị trrung bình mỗi tháng lên tới trên 10 triệu đồng [3]. Điều đó cho thấy gánh nặng kinh tế và sức khỏe, tinh thần do Thalassemia gây ra là không nhỏ. Bệnh viện Truyền máu - Huyết học TP Hồ Chí Minh là đơn vị đầu ngành chuyên thăm khám và điều trị các bệnh lý liên quan đến huyết học tại thành phố Hồ Chí Minh cũng như các tỉnh phía Nam.
Trong những năm gần đây, lượng bệnh nhân điều trị tại bệnh viện có xu hướng ngày càng tăng đòi hỏi bệnh viện cần xây 1 dựng kế hoạch điều trị một cách chủ động, dự trù các nguồn lực để đáp ứng nhu cầu điều trị. Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại, bệnh viện chưa có nghiên cứu nào đánh giá tổng thể về cơ cấu chi phí điều trị trực tiếp cũng như các yếu tố liên quan đến chi phí điều trị bệnh Thalassemia. Do sự cấp thiết kể trên, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài: "Phân tích chi phí điều trị trực tiếp bệnh Thalassemia tại Bệnh viện truyền máu huyết học TPHCM 09 tháng năm 2023" với hai mục tiêu: 1. Mô tả cơ cấu các chi phí điều trị trực tiếp đến Thalassemia của bệnh nhân ngoại trú có bảo hiểm y tế được quản lý tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học TP.
Các yếu tố tác động đến chi phí điều trị trực tiếp bệnh Thalassemia ngoại trú tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học TP. Đặc điểm dịch tễ học bệnh Thalassemia Thalassemia (còn được biết với tên “Bệnh thiếu máu vùng biển” hay “bệnh thiếu máu Cooley”) được phát hiện bởi Thomas B. Thalassemia là bệnh thiếu máu tán huyết di truyền hay thiếu máu tán huyết bẩm sinh. Biểu hiện chính của bệnh là thiếu máu, do giảm hoặc mất hẳn sự tổng hợp của một loại chuỗi globin, tuỳ theo sự thiếu hụt tổng hợp chuỗi alpha (α) globin hay beta (β) globin, mà có tên gọi là α-Thalassemia hay β-Thalassemia [1, 5].
Thalassemia là một trong những bệnh rối loạn di truyền phổ biến nhất trên thế giới, bệnh có liên quan đến nguồn gốc dân tộc. Bệnh phân bố khắp toàn cầu, song có tính địa dư, thường gặp ở vùng Địa Trung Hải, khu vực Trung Đông, Đông Nam và Bắc Phi [4]. Theo báo cáo của Liên đoàn Thalassemia quốc tế năm 2007, số người mang gen bệnh Thalassemia chiếm khoảng 7% dân số toàn cầu [6]. Ở Việt Nam, qua một số nghiên cứu từ năm 2010 đến nay cho thấy người mang gen Thalassemia gặp với tỷ lệ từ 3,5 - 28% tùy từng khu vực và dân tộc [7, 8].
Cơ chế bệnh sinh 1. Rối loạn tổng hợp huyết sắc tố (Hemoglobin – Hb) Hemoglobin (Hb) là thành phần chủ yếu của hồng cầu, chiếm 28% trọng lượng của hồng cầu, tương ứng 14,6 g trong 100 ml máu toàn phần. Mỗi phân tử Hb có 4 tiểu đơn vị, mỗi tiểu đơn vị gồm một chuỗi globin và nhân hem (chứa sắt hóa trị Fe+2). Mỗi chuỗi α-globin có 141 acid amin và có cấu trúc gần giống nhau; các chuỗi họ không α-globin là: beta (β), delta (δ), gamma (γ) và epxilon (ε).
Mỗi chuỗi không α-globin có 146 axit amin. Mỗi phân tử Hb bình thường được tạo bởi 2 chuỗi họ α-globin và 2 chuỗi không α-globin với tỷ lệ cân bằng. Tổn thưởng gen -globin và không -globin có thể làm giảm hoặc mất tổng hợp 3 các chuỗi globin tương ứng. Tổn thương gen α-globin làm thừa các chuỗi không α (là chuỗi γ và β -globin), tạo Hb bất thường là Hb Bart’s (γ 4) và HbH (α4).
Tổn thương gen α -globin làm giảm hoặc mất tổng hợp chuỗi α-globin, bên cạnh đó, sự tăng hoạt động trở lại của gen α-globin và tăng hoạt động gen α-globin (ở trẻ sau khi ra đời). Các chuỗi này khi kết hợp với chuỗi α-globin tạo HbF (α2β2), HbA2 (α2β2). Khả năng vận chuyển oxy của các Hb bất thường rất kém dẫn đến thiếu oxy tại tổ chức [1, 4, 5, 11]. Sinh hồng cầu không hiệu lực Giảm tổng hợp chuỗi α-globin sẽ làm thừa chuỗi β-globin và ngược lại.
Các chuỗi globin thừa lắng đọng trên màng hồng cầu làm tổn thương và gây vỡ hồng cầu. Chuỗi α-globin tự nó không thể tạo thành một phân tử huyết sắc tố hoàn chỉnh, do đó nó bị kết tủa tạo thành thể vùi trong các tế bào tiền thân dòng hồng cầu trong giai đoạn tổng hợp huyết sắc tố. Những thể vùi lớn làm phá huỷ nguyên hồng cầu, gây ra sinh hồng cầu không hiệu lực trong tất cả các thể β-Thalassemia. Trong β-Thalassemia thể nặng, phần lớn các tế bào đầu dòng hồng cầu bị phá huỷ ngay khi còn ở trong tuỷ xương [4, 11].
Tan máu Chuỗi globin tự do kết hợp với protein màng hồng cầu làm thay đổi cấu trúc và chức năng màng hồng cầu làm hồng cầu dễ bị đại thực bào bắt giữ ở hệ liên võng. Sự thoái giáng các chuỗi α-globin, ε-globin tự do, hem, hemin (dạng oxy hoá của heme) và ion sắt tự do cũng đóng vai trò quan trọng trong phá huỷ màng hồng cầu [4, 12]. Triệu chứng chính của bệnh Thalassemia là hội chứng thiếu máu và tan máu mạn tính, do vậy nếu không được truyền máu sớm và định kỳ, bệnh nhân sẽ bị biến chứng biến dạng xương do tình trạng tăng sinh tạo máu quá mức. Bên cạnh đó, do cơ thể tăng hấp thu sắt và việc đưa một lượng lớn sắt vào cơ thể qua truyền máu đã gây nên tình trạng quá tải sắt ở bệnh nhân Thalassemia [10].
4 Giảm chuỗi β- Không có chuỗi β- globin (β+) globin (β0) Thừa chuỗi α- globin Kết tủa trong nguyên HC ở tủy xương Tổn thương màng HC máu ngoại vi Phá hủy nguyên HC ở tủy xương Tan máu Sinh HC không hiệu lực THIẾU MÁU Tăng Erythropoietine Tăng hấp thu sắt Truyền máu Mở rộng khoang sinh máu Quá tải sắt Biến dạng xương Biến chứng tim Tử vong Hình 0.1: Cơ chế bệnh sinh của β-Thalassemia [11] 1. Chẩn đoán, phân loại bệnh Thalassemia Biểu hiện của Thalassemia rất đa dạng do sự đa dạng về di truyền mà tùy theo số lượng đột biến, kiểu đột biến, sự phối hợp các đột biến mà có nhiều mức độ biểu hiện bệnh khác nhau từ thể ẩn (không có biểu hiện lâm sàng) đến mức độ rất nặng (tử vong từ trong bào thai). Hiện nay có nhiều cách thức phân loại bệnh Thalassemia dựa vào lâm sàng, xét nghiệm và phương pháp điều trị [10, 11, 13, 14]. Lâm sàng Thalassemia là bệnh mạn tính.
Các hội chứng và triệu chứng thường gặp sau: Hội chứng thiếu máu mạn, hội chứng hoàng đảm, lách to, gan to, tăng sinh tạo 5 máu phản ứng và quá tải sắt 1. Cận lâm sàng - Tổng phân tích tế bào máu ngoại vi: Thiếu máu, hồng cầu nhỏ, nhược sắc, kích thước không đều, hình thái đa dạng như hình bia bắn, hình giọt nước, có thể có hồng cầu non ra máu ngoại vi; hồng cầu lưới tăng. - Sức bền thẩm thấu hồng cầu (Osmotic Fragility - OF): Tăng. - Test DCIP (dichlorophenolindophenol): Dương tính khi có huyết sắc tố E.
- Xác định thành phần huyết sắc tố: Có Hb bất thường hoặc thay đổi tỷ lệ thành phần Hb. - Xác định đột biến gen globin: Phát hiện các đột biến trên gen globin. - Sinh hóa máu: + Bilirubin toàn phần tăng, bilirubin gián tiếp tăng; + Biểu hiện tình trạng thừa sắt: Sắt huyết thanh tăng, ferritin tăng, độ bão hòa transferin tăng,.; + Có thể thay đổi chỉ số hormon (biểu hiện của suy tuyến nội tiết): Tuyến yên (LH, GH, ACTH, FSH,.), tuyến sinh dục (FSH, Estradiol, progesterol, prolactin, testosterol, Gn-RH, IGFI, IGFBP-3…), tuyến giáp (T3, T4, FT3, FT4, TSH), tuyến cận giáp (PTH, calcitonin), tụy nội tiết (Insulin, peptid C, Fructosamin, HbA1C); + Có thể thay đổi các chỉ số: Glucose, GOT, GPT, photphatase kiềm, GGT, Ure, creatinin, acid uric, Protein, Albumin, Globulin, LDH, Canxi, Phosphate, Magne, Vitamin B12, Acid folic. Chẩn đoán thể bệnh Alpha Thalassemia - Xét nghiệm thành phần huyết sắc tố có Hb Bart’s và/hoặc HbH.
- Và/ hoặc xét nghiệm DNA: Có đột biến gen alpha globin như: --SEA; -- THAI; α3.2;… Beta Thalassemia - Xét nghiệm thành phần huyết sắc tố có HbA2 tăng và/ hoặc HbF tăng. 6 - Và/hoặc xét nghiệm DNA: Có đột biến gen beta globin như: Cd17; Cd 41/42; Cd71/72; Cd95; IVS1-1; IVS1-5; IVS2- 654. Các mức độ của bệnh Thalassemia Mức độ nặng Biểu hiện thiếu máu nặng, có thể từ ngay sau khi ra đời, thường biểu hiện rõ ràng nhất khi trẻ được 4 - 6 tháng tuổi và ngày càng nặng hơn. Những biểu hiện thường gặp: - Trẻ xanh xao; Da và củng mạc mắt vàng; Thường chậm phát triển thể chất; Có thể bị sốt, tiêu chảy hay các rối loạn tiêu hóa khác.
Nếu được truyền máu đầy đủ, trẻ có thể vẫn phát triển bình thường đến khoảng 10 tuổi.