Chương 1: Cơ sở lý thuyết và tong quan nghiên cứu Chương 2: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu CHUONG 1. CO SO LY THUYET VA TONG QUAN NGHIEN CUU 1. Khái niệm chung về thu nhập Thu nhập được định nghĩa là khoản của cải, thường được quy đổi thành tiền mà một cá nhân, doanh nghiệp hay một nên kinh tế nhận được từ công việc, dịch vụ hoặc một hoạt động nào đó trong một khoảng thời gian nhất định. Thu nhập có thé bao gồm các khoản như tiền lương, tiền cho thuê tài sản hay lợi nhuận kinh doanh.
Thu nhập có thể có được từ nhiều nguồn khác nhau như từ hoạt động lao động, từ thừa kế, từ việc sở hữu những giấy tờ có giá tri hoặc được cho tang,. Cách tính thu nhập bình quân đầu người hộ gia đình Theo Tổng cục Thống kê, thu nhập bình quân đầu người hộ gia đình 1 tháng được tính bang cách chia tông thu nhập trong năm của hộ gia đình cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng. Công thức tính như sau: Tổng thu nhập của hộ dân cư trong năm Thu nhập bình quân đầu (VNĐ) người | thang (VNĐ/người) 12 x (Số nhân khẩu bình quân năm của hộ) Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật sau khi trừ đi chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên trong hộ nhận được trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm. Thu nhập của hộ gồm: Thu từ tiền lương, tiền công; Thu từ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp (sau khi đã trừ đi chi phí sản xuất và thuế sản xuất); Thu từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm, ngư nghiệp (sau khi đã trừ đi chỉ phí sản xuất và thuế sản xuất); Thu khác được tính vào thu nhập như lãi tiết kiệm, được biếu, mùừng,.
Các khoản không được tính vào thu nhập gồm rút tiền gửi tiết kiệm, thu nợ, vay nợ, các khoản chuyên nhượng vôn nhận được do liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh,. Chênh lệch về thu nhập Thu nhập là một trong các yếu tố gắn liền mới mức sống của người lao động. Vì thế, chênh lệch thu nhập cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến chênh lệch mức sống là phân hóa giàu nghèo. Các lý thuyết kinh tế học cố điển cho rằng sự tôn tại của chênh lệch thu nhập và tiền lương giữa các nhóm lao động là tất yêu.
Phần chênh lệch về thu nhập này chính là khoản đãi ngộ xứng đáng cho sự khác biệt về năng lực cá nhân hoặc năng suất của người lao động. Tuy nhiên, các lý thuyết này gặp khó khăn trong việc lý giải các mức chênh lệch thu nhập quá lớn xảy ra trong nền kinh tế. Nhiều nghiên cứu áp dụng các phương pháp định lượng cũng chỉ ra răng sự chênh lệch thu nhập bên cạnh những chênh lệch về đặc điểm và trình độ lao động thì còn chịu ảnh hưởng rat lớn bởi các yếu tô không đo lường năng lực của người lao động như giới tính, khu vực sinh song, dân tộc, tình trạng hôn nhân. Oaxaca - Blinder (1973) là những người tiên phong trong việc phân rã chênh lệch thu nhập thành các nhóm nguyên nhân.
Tiếp nối ý tưởng nghiên cứu này, hầu như trong tất cả các nghiên cứu, phần chênh lệch thu nhập giữa hai nhóm lao động được chia ra 2 phần: phần chênh lệch được giải thích, gây ra do sự chênh lệch về các đặc điểm của người lao động và phần chênh lệch chưa được giải thích, gây ra bởi chênh lệch về hệ số hồi quy, thể hiện sự khác nhau trong chính sách đãi ngộ giữa các nhóm lao động. Phần chênh lệch chưa được giải thích này được xem như là phần thể hiện sự phân biệt đối xử hoặc sự bất bình đắng trong thu nhập giữa các nhóm lao động. Tong quan các nghiên cứu về chênh lệch thu nhập 1. Các nghiên cứu trên thế giới Sau khi phương pháp hồi quy phân vi được Koenker và Bassett giới thiệu vào năm 1978, Buchinsky (1994) đã khởi xướng việc ứng dụng phương pháp này vào việc ước lượng hàm hồi quy tiền lương theo trình độ học van.
Buchinsky sử dụng số liệu tiền lương của Mỹ trong giai đoạn 1963 — 1987, cùng với phương pháp hồi quy phân vị, ông đã xây dựng và so sánh hàm tiền lương theo thời gian. Kết quả cho thấy hệ số hồi quy của các biến số năm đi học và số năm kinh nghiệm khác nhau trên từng phân vị nhưng xu hướng biến đổi của hệ số hồi quy của 2 biến này trên các phân vị tiền lương có nét tương đồng. Năm 2002, AJwad và các cộng sự nghiên cứu sự chênh lệch về tiền lương ở Sri Lanka trên bộ số liệu khảo sát của Sri Lanka năm 1999 và 2000. Nghiên cứu đặt ra bốn mục tiêu như sau: thir nhất, xem xét xem giữa các nhóm lao động có sự lênh lệch về tiền lương phân theo giới tính và dân tộc hay không; thứ hai, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương ở Sri Lanka; thir ba, phân tích ảnh hưởng của các nhân tố này trên từng phân vị của hàm tiền lương; thir tw, phân rã khoảng chênh lệch tiền lương theo giới tính và dân tộc thành hai phần là chênh lệch gây ra bởi khác biệt về đặc điểm lao động và chênh lệch gây ra do sự khác biệt giá trị của hệ số hồi quy.
Dé trả lời cho câu hỏi nghiên cứu thứ nhất, các tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả giá trị trung bình và giá trị các phân vị của tiền lương. Phương pháp hồi quy OLS và hồi quy phân vị được sử dung cho mục đích nghiên cứu thứ hai và thứ ba. Dé trả lời cho mục đích thứ tư, các tác giả sử dụng phương pháp phân rã Oaxaca — Blinder. Dựa trên kết quả hồi quy OLS và hồi quy phân vị được xét trên các phân vị 10%, 25%, 50%, 75%, 90%, nhóm tác giả kết luận rằng tiền lương ở Sri Lanka không bị ảnh hưởng bởi yếu tố dân tộc.
Tuy nhiên, các tác giả khang định răng có sự khác biệt tiền lương theo giới tinh. Cu thé, tiền lương của nam giới cao hơn nữ giới 10% ở nhóm Tamils và tăng lên tới 48% ở những dân tộc khác. Sự chênh lệch tiền lương theo giới tính gây ra bởi sự khác biệt hệ sỐ hồi quy. Mức chênh lệch tiền lương theo giới tính giảm dần từ phân vị thấp tới phân vi cao.
Năm 2005, Machado và Mata thực hiện hồi quy phân vị hàm tiền lương Mincer (1974) theo cách tương tự như Buchinsky (1994) đã áp dụng. Họ thực hiện nghiên cứu trên bộ dữ liệu về tiền lương của lực lượng lao động Bồ Đào Nha trong hai năm 1986 và 1995. Hai ông đã đề xuất phương pháp mới đó là phân rã chênh lệch tiền lương theo từng phân vị dựa theo phương pháp của Oaxaca — Blinder (1973). Biến phụ thuộc được Machado — Mata đưa vào mô hình nghiên cứu là logarit tiền lương tính theo giờ.
Các biến giải thích được đưa vào mô hình gồm: giới tính, tuôi, học van và thời gian làm công việc hiện tại. Kết qua cho thấy tiền lương trung bình của lao động nam cao hơn lao động nữ và khoảng cách tiền lương càng tăng lên khi xét ở phân vị càng cao. Hàm phân phối tiền lương của lao động nữ ít phân tán hơn so với hàm phân phối tiền lương của lao động nam. Su và Heshmati (2013) đã sử dụng bộ số liệu Khảo sát Sức khỏe và Dinh dưỡng Trung Quốc cùng với phương pháp phân rã Oaxaca — Blinder và Machado — Mata dé thực hiện phân tích chênh lệch thu nhập hộ gia đình giữa hai khu vực nông thôn và thành thị.
Kết quả cho thấy hai yếu tố là trình độ học van và nghề nghiệp có ảnh hưởng quan trọng tới thu nhập. Hai biến độc lập này có ảnh hưởng khác nhau trên từng phân vi của thu nhập. Ở khu vực thành thị, trình độ học van có ảnh hưởng lớn hơn tới nhóm hộ có thu nhập cao, trong khi đó ở nông thôn, học trường nghề hoặc đại học lại có tác động lớn tới các hộ gia đình có thu nhập thấp. Ngoài ra, kết quả còn cho thấy khoảng chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn gia tăng trong giai đoạn 2000 — 2004 và giảm xuống trong giai đoạn 2004 — 2009.
Năm 2016, Landmesser phân tích sự khác biệt về tiền lương theo phân phối thu nhập của các hộ gia đình có 1 nhân khâu giữa khu vực thành thị và nông thôn trên bộ dữ liệu khảo sát ngân sách hộ gia đình tại Ba Lan năm 2012. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi phân tích ở nhóm hộ có tiền lương cao, khoảng chênh lệch tiền lương giữa hai khu vực có xu hướng gia tăng. Bên cạnh đó, kết quả phân rã cho thấy phần chênh lệch được giải thích bởi các biến độc lập có xu hướng tăng lên và phần chênh lệch được giải thích bởi hệ số hồi quy có xu hướng giảm đi. Điều này cho thấy sự chênh lệch tiền lương giữa thành thị và nông thôn chủ yếu là do sự khác biệt về đặc điểm lao động giữa hai khu vực.
Tóm tắt các nghiên cứu nước ngoài STT Tac gia Nam Số liệu Kết quả nghiên cứu Tiền lương Trình độ học vẫn và số năm kinh của lao nghiệm có ảnh hưởng đến tiền 1 Buchinsky | 1994 động ở My | lương, hệ sô hôi quy của các biên trong giai này khác nhau trên từng phân vi. đoạn 1963 — 1987 Tiền lương Tiên lương không bị ảnh hưởng Ajwad và ở Sri Lanka | bởi yếu tố dan tộc. Các cong sự năm 1999 Mức lương của nam giới nhận và 2000 được cao hơn của nữ giới. Tiên lương Tiên lương trung bình của nam Machado & của lao gid cao hơn nữ giới và khoảng 3 Mata 2005 | động Bồ cách tiên lương càng tăng lên khi Đào Nha xét ở phân vi càng cao.
trong những năm 1986 Trình độ học vân là yêu tô chính và 1995 tác động đên sự gia tăng của chênh lệch tiên lương. Các biên tuôi, sô năm làm công việc hiện tại, trình độ học vân có ảnh hưởng đến tiền lương. Trình độ học vân và nghề nghiệp là hai yếu tố ảnh hưởng chủ yếu Bộ dữ liệu đến thu nhập hộ gia đình. của Khảo sát Dinh dưỡng | ø thôn gia tăng Trung Quốc trong giai đoạn 2000 — 2004 và giảm xuông trong giai đoạn 2004 — 2009.