Chương 1: Giới thiệu chung về đề tài; Chương 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng dịch vụ cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại; Chương 3. Phương pháp nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam - chi nhánh Thanh Xuân; Chương 4: Kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam - chi nhánh Thanh Xuân; Chương 5: Kết luận, đóng góp và một số giải pháp 8 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.
Lý luận về chất lượng dịch vụ cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm và phân loại hoạt động cho vay NHTM 2. Khái niệm hoạt động cho vay Phan Thị Thu Hà (2012) đã có nghiên cứu về Ngân hàng thương mại”, đã đưa ra khái niệm hoạt động cho vay: “Hoạt động cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”. Trong NHTM, cho vay luôn là khoản mục chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng tài sản của ngân hàng và là khoản mục đem lại thu nhập cao nhất cho ngân hàng.
Tuy nhiên rủi ro trong hoạt động ngân hàng có xu hướng tập trung vào danh mục các khoản cho vay. Tiền cho vay là một món nợ đối với cá nhân hay doanh nghiệp đi vay nhưng lại là một tài sản đối với ngân hàng. Khi phát sinh một khoản vay thì người vay là bên chủ động, có thể trả ngân hàng tiền vay trước hạn, đúng hạn hay có thể xin gia hạn thêm thời gian trả nợ. Còn các NHTM thực hiện quản lý các khoản vay theo hợp đồng đã ký, trừ khi phát sinh sai phạm vi phạm hợp đồng của khách hàng trong quá trình vay.
Phân loại hoạt động cho vay Việc phân loại các hình thức cho vay nhằm mục đích quản lý các khoản vay mang lại hiệu quả nhất. Tùy theo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lý của Ngân hàng, hoạt động cho vay của NHTM được phân loại như sau: a. Căn cứ vào thời hạn cho vay Phân chia các khoản cho vay theo thời hạn giúp cho Ngân hàng đảm bảo hơn về tính an toàn và sinh lời của hoạt động cho vay, cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng. Theo căn cứ này, cho vay được chia làm ba loại: 9 Cho vay ngắn hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng, tài trợ cho nhu cầu vốn ngắn hạn hay vốn lưu động của doanh nghiệp, hộ sản xuất hay nhà nước.
Hình thức cho vay hoặc trực tiếp trên thị trường liên Ngân hàng hoặc gián tiếp thông qua việc nắm giữ chứng khoán. Với doanh nghiệp, Ngân hàng cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu vốn tăng thêm cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Với người tiêu dùng, Ngân hàng cho vay nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm tiêu dùng. Cho vay trung hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng.
Hình thức cho vay này chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.Cho vay trung hạn chính là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp mới thành lập Cho vay dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay từ 60 tháng trở lên. Hình thức cho vay này áp dụng cho các doanh nghiệp có nhu cầu mua sắm công nghệ, trang thiết bị, cải tiến kỹ thuật hay tài trợ cho Nhà nước với mục đích đầu tư phát triển. Căn cứ vào phương thức cho vay Theo căn cứ này, cho vay được chia làm 6 loại: thấu chi, cho vay trực tiếp từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay luân chuyển, cho vay trả góp và cho vay gián tiếp. Thấu chi: Là hình thức cho vay mà Ngân hàng cho phép khách hàng chỉ trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định trong khoảng thời gian xác định.
Giới hạn đó được gọi là hạn mức thấu chi. Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay phổ biến của Ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Cho vay theo hạn mức: Là hình thức cho vay mà Ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng đó có thể tính cho cả kì hoặc cuối kì, đó là số dư tối đa tại thời điểm tính.
Đây là hình thức cho vay thuận tiện với những khách hàng vay mượn thường xuyên, vốn vay tham thường xuyên tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh. 10 Cho vay luân chuyển: Là hình thức cho vay dựa trên sự luân chuyển của hàng hóa. Hình thức này thường được áp dụng đối với các doanh nghiệp thương nghiệp hay doanh nghiệp sản xuất, có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả với Ngân hàng. Cho vay luân chuyển mang lại rất thuận tiện cho khách hàng vì thủ tục vay chỉ cần thực hiện một lần cho nhiều lần vay, đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời cho khách hàng, nên việc thanh toán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn hơn.
Cho vay trả góp: Là hình thức cho vay mà Ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn đã thỏa thuận. Ngân hàng thường cho vay trả góp với người tiêu dùng thông qua hạn mức nhất định, tuy nhiên hình thức này mang lại rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng hóa mua trả góp, khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của người vay. Hình thức này thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng hóa lâu bền. Cho vay gián tiếp: Là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian như nhóm, đội, hội… Trong hình thức này, Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các tổ chức trung gian như thu nợ hay phát triển vay.
Các tổ chức này liên kết với các thành viên theo những mục đích riêng, song chủ yếu là hỗ trợ nhau, bảo vệ quyền lợi cho mỗi thành viên. Bên cạnh những cách phân loại đã nêu trên, có thể phân loại cho vay theo đối tượng khách hàng, theo phương pháp hoàn trả hay các hình thức tín dụng… 2. Khái niệm, đặc điểm và vai trò cho vay khách hàng cá nhân 2. Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng được ví như huyết mạch của nền kinh tế.
Trước đây, NHTM cung cấp hai hoạt động truyền thống là nhận tiền gửi và cho vay, thì bây giờ ngân hàng còn cung cấp thêm nhiều dịch vụ tài chính đa dạng như: ps, thanh toán hộ, thẻ, chuyển tiền, bảo hiểm, bảo lãnh,. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh chính mà mọi ngân hàng đều có vẫn là hoạt động cho vay. 11 Theo Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định, trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Trong thực tiễn các NHTM thường phân loại hoạt động cho vay theo những tiêu thức khác nhau như: Theo loại khách hàng, theo thời hạn cho vay, theo phương thức cho vay, theo đồng tiền cho vay, theo hình thức đảm bảo.
Nếu dựa vào loại khách hàng, hoạt động cho vay của NHTM thường được phân chia thành: Cho vay KHDN, cho vay KHCN và cho vay định chế tài chính, tổ chức khác. Như vậy có thể hiểu: “Cho vay KHCN là một hình thức cấp tín dụng, theo độ bền cho vay giao hoặc cam kết cho KHCN một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định, trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” Cho vay KHCN đã phát triển từ lâu trên thế giới và là một lĩnh vực truyền thống của các NHTM để đáp ứng các nhu cầu sản xuất kinh doanh, tiêu dùng của KHCN, Đặc biệt xu hướng cho vay tiêu dùng tăng nhanh như hiện nay, nhất là ở các thành phố lớn nơi có dân số trẻ, với cách tiêu dùng mới. Chính vì vậy, nhiều NHTM ở Việt Nam đã và đang tập trung vào mảng cho vay KHCN và đưa ra nhiều các sản phẩm tín dụng nhằm phát triển thị trưởng mới nhiều tiềm năng này. Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân Đối tượng cho vay: Là một người hay một hộ gia đình, những người buôn bán nhỏ, nông dân, hộ thủ công nghiệp, thợ may, cơ khí, sinh viên, các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ …hoặc là đại diện của hộ gia đình (là những người được các thành viên có đủ năng lực pháp luật và hành vi dân sự trong gia đình) thay mặt hộ gia đình ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay và cam kết cùng trả nợ cho ngân hàng.
Họ có nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng như khi họ cần tiền để mua nhà, mua ô tô hay khi họ muốn tiền của họ được cất giữ an toàn mà vẫn có lãi. Mặc dù thị trường KHCN nhỏ nhưng quy mô lại tương đối lớn về số lượng đối với thị trường khách hàng là các doanh nghiệp. KHCN có nhu cầu rất đa dạng và 12 phức tạp, có các nhóm dân cư khác nhau về thu nhập, tuổi tác, giới tính, địa vị xã hội… cũng có nhu cầu riêng cụ thể như dưới đây: Nhóm có thu nhập thấp: Nhu cầu tín dụng của họ thường bị hạn chế bởi họ rất khó khăn trong chi tiêu. Ngược lại họ cố gắng tìm cách vay mượn để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng mà không có khả năng được đáp ứng bởi hạn chế từ thu nhập thấp.
Nhóm có thu nhập trung bình: Nhu cầu tín dụng của nhóm người này có xu hướng ngày càng tăng.