Chương 1. Cơ sở lí thuyết Chương 2. Câu hỏi tu từ trong tập thơ “Ánh sáng và phù sa” của Chế Lan Viên xét trên bình diện kết học. Câu hỏi tu từ trong tập thơ “Ánh sáng và phù sa” của Chế Lan Viên xét trên bình diện nghĩa học, dụng học và đặc điểm phong cách thơ Chế Lan Viên.
Khái quát về ba bình diện của ngữ pháp chức năng Trong lịch sử nghiên cứu ngữ pháp, đã có những khuynh hướng ngữ pháp khác nhau: ngữ pháp truyền thống, ngữ pháp Tesnière, ngữ pháp tạo sinh v. Mỗi khuynh hướng ngữ pháp như vậy đều có những thành tựu quan trọng, tuy nhiên vẫn có những khiếm khuyết nhất định, và khiếm khuyết lớn nhất là không quan tâm đầy đủ đến 3 bình diện của câu nói, với tư cách là một đơn vị thông báo có ngữ nghĩa và cấu trúc đặc thù. Ngữ pháp chức năng ra đời với những đại diện như Halliday, Dik. đã như một làn gió mới, giúp giải quyết những bế tắc mà ngữ pháp truyền thống gặp phải.
Với quan niệm về ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học, ngữ pháp chức năng đã tạo ra bước ngoặt cho việc nghiên cứu ngôn ngữ, tu sửa và bổ khuyết các thiếu sót của các lí thuyết ngữ pháp trước đó khi tìm hiểu về câu. Những nhà khai sáng của ngữ pháp chức năng khi nghiên cứu đã dùng thuật ngữ khác nhau để đặt tên cho ba bình diện của câu, với ít nhiều khác biệt, tùy theo tác giả cụ thể. Halliday gọi mô hình tam phân là ba siêu chức năng khi nghiên cứu câu là siêu chức năng ý niệm, siêu chức năng liên nhân và siêu chức năng văn bản. Ông quan niệm: Câu là sản phẩm của ba quá trình biểu nghĩa diễn ra đồng thời, nó vừa là sự biểu hiện của kinh nghiệm, vừa là một sự trao đổi có tính chất tác động qua lại lẫn nhau, vừa là một thông điệp.
Dik, bình diện cú pháp xét mặt tiêu chuẩn hình thức thuần túy, trình bày các sự tình theo cách sắp xếp của cấu trúc cú pháp; bình diện nghĩa học là bình diện của sự tình được biểu thị và những vai trò tham gia cái sự tình ấy; bình diện dụng pháp là bình diện của việc sử dụng ngôn ngữ trong những ngữ cảnh cụ thể… Dù có những tên gọi khác nhau cho mô hình, song họ - các nhà nghiên cứu thuộc khuynh hướng ngữ pháp chức năng đều cơ bản khẳng định một hướng 9 đi thống nhất: Dựa trên ba bình diện là kết học, nghĩa học và dụng học khi tìm hiểu về câu. Bình diện kết học (Syntactics) Đây là bình diện nghiên cứu ký hiệu trong mối quan hệ với những ký hiệu khác trong một thông điệp. Nhiệm vụ của nó là nghiên cứu các quy tắc, cách thức liên kết từ với từ thành cụm từ (cụm từ đẳng lập, cụm từ chính phụ), thành câu (đặc điểm, chức năng của các thành phần câu: các thành phần chính như chủ ngữ, vị ngữ, các thành phần phụ như bổ ngữ, trạng ngữ, đề ngữ…), các kiểu câu (các kiểu cấu tạo của các loại câu như câu đơn, câu phức, câu ghép). Các ký hiệu kết hợp với nhau phải theo một trật tự, quy tắc nhất định thì mới tạo thành câu có ý nghĩa.
Việc đi ngược lại với quy tắc kết hợp giữa các ký hiệu khiến cho người tiếp nhận không thể lĩnh hội hoặc lĩnh hội sai, không đầy đủ, hiệu quả giao tiếp bị hạ thấp. Theo quan niệm của ngữ pháp truyền thống, tổ chức của câu được miêu tả qua hệ thống thành phần câu như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ,… Các thành phần này được nhận diện bởi dấu hiệu hình thức. Song trên thực tế, việc nhận diện các thành phần câu không dễ dàng. Ngữ pháp truyền thống, với lịch sử lâu đời, đã đạt nhiều thành tựu trong việc nghiên cứu các thành phần chính của câu, thể hiện qua việc miêu tả và sử dụng cặp khái niệm chủ ngữ - vị ngữ, nhưng với thành phần phụ thì bộc lộ nhiều hạn chế, rõ nhất ở sự khác biệt trong việc dùng dấu hiệu hình thức nào để nhận diện chúng.
Đặc biệt, với một ngôn ngữ không biến đổi hình thái như tiếng Việt, việc tìm hiểu câu trên bình diện kết học của ngữ pháp truyền thống còn gây nhiều tranh cãi, như Nguyễn Văn Hiệp (2009) chỉ ra đó là: quan niệm thế nào là thành phần câu và các loại thành phần câu, những tiêu chí nào dùng để xác định thành phần câu? Khác với ngữ pháp truyền thống, ngữ pháp chức năng cho rằng trong câu có 3 cấu trúc hay còn gọi là cấu hình (configuration) khác nhau, mỗi cấu trúc hay cấu hình đó thể hiện một siêu chức năng riêng: 10 - Cấu trúc nghĩa biểu hiện: dùng để thực hiện chức năng siêu kinh nghiệm và siêu chức năng logic. Theo cấu trúc này, tổ chức câu sẽ bao gồm: quá trình (prosess) + tham thể (participant) + chu cảnh (circumstance). - Cấu trúc thức: dùng để thực hiện siêu chức năng liên nhân (interpersonal metafunction). Theo cấu trúc này, tổ chức câu gồm: phần thức (mood) + phần dư (residue).
- Cấu trúc đề - thuyết: dùng để thực hiện siêu chức năng văn bản (textual metafunction). Theo cấu trúc này, tổ chức câu gồm: đề + thuyết Ba chức năng này gọi là siêu chức năng bởi chúng không phải là những chức năng tự thân, mà chúng hướng đến phục vụ cho chức năng làm công cụ giao tiếp của ngôn ngữ. Một câu nói cần đảm bảo đầy đủ chức năng kinh nghiệm (phản ánh sự tri nhận và hiểu biết của người nói về thế giới), chức năng liên nhân (phản ánh sự tương tác giữa người nói và người nghe), chức năng văn bản (đưa câu nói vào diễn ngôn và khiến câu nói tương thích với ngữ cảnh), khi ấy câu nói mới trở thành công cụ giao tiếp. Cũng vì thế, cấu trúc cú pháp cổ điển của ngữ pháp truyền thống (với các tên gọi chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ … cho các thành phần cấu trúc) không tồn tại trong ngữ pháp chức năng hệ thống.
Việc so sánh, đưa ra những khác biệt về quan điểm giữa ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp chức năng nói trên nhằm mục đích có cái nhìn toàn diện hơn khi tìm hiểu câu hỏi tu từ trong tập “Ánh sáng và phù sa” của Chế Lan Viên trên bình diện kết học. Bình diện nghĩa học (Semantics) Nghĩa học là bình diện nghiên cứu mối quan hệ giữa ký hiệu với sự vật khách quan được ký hiệu biểu hiện (nghiên cứu phần nghĩa tường minh). Bình diện này xem xét câu biểu thị nội dung gì trong thế giới thực tại (thực tế hay tưởng tượng). Có thể đề cập đến 3 loại nội dung (nghĩa) mà câu biểu thị: nghĩa sự tình, nghĩa tình thái, và nghĩa chủ đề.
Nghĩa sự tình Còn có tên gọi khác cho loại nghĩa này là nghĩa biểu hiện, nghĩa trình bày, nghĩa kinh nghiệm, nghĩa miêu tả. Đây là nghĩa liên quan đến hàm chân trị (giá trị đúng hay sai) của câu khi câu được sử dụng trong những tình huống giao tiếp cụ thể. Loại nghĩa này phản ánh một sự tình, tức là phản ánh sự việc, hiện tượng, hoạt động, tính chất, trạng thái, quan hệ, … trong thực tế khách quan. Sự việc, hiện trượng này được gọi là các sự tình, chúng được phản ánh vào trong câu thông qua cách nhìn nhận, đánh giá của người nói/người viết.
Mỗi sự tình bao gồm một thành tố cốt lõi, thường do một động từ hay tính từ đảm nhiệm, gọi là vị tố. Các nhân tố tham gia vào sự tình, các nhân tố này hoạt động xoay quanh vị từ, gọi là tham thể. - Vị tố: Vị tố thường do các động từ, tính từ hay các từ chỉ quan hệ biểu thị. Nó có quan hệ với vị từ, nhưng không đồng nhất với vị từ.
Theo cách hiểu của phần đông các nhà nghiên cứu, vị từ là khái niệm để chỉ hai từ loại là động từ và tính từ. Còn vị tố là khái niệm để chỉ chức năng nghĩa trong cấu trúc nghĩa miêu tả của câu. Như vậy, vị từ thuộc bình diện ngữ pháp, còn vị tố thuộc bình diện ngữ nghĩa. Cùng một vị từ có khả năng đảm nhận vai trò của các vị tố khác nhau; song thành phần tạo nên vị từ lại ít hơn thành phần tạo nên vị tố.
Để phân loại vị tố, người ta thường dựa vào ba tiêu chí: tiêu chí ý nghĩa (có vị tố dời chuyển, vị tố tác động, vị tố nói năng ….); tiêu chí đặc trưng (± động), (± chủ ý); tiêu chí số lượng các tham thể (có vị tố đòi hỏi một tham thể bắt buộc, vị tố đòi hỏi hai tham thể bắt buộc …). - Tham thể (tham tố): thường do các danh từ, cụm danh từ hoặc đại từ biểu thị. Tham thể thường được chia thành hai loại: tham thể bắt buộc (diễn tố) và tham thể mở rộng (chu tố - theo cách gọi của Cao Xuân Hạo). + Tham thể bắt buộc là những tham thể là vị tố đòi hỏi bắt buộc phải có mặt trong sự tình.
Tham thể bắt buộc xuất hiện do sự đòi hỏi, ấn định trực tiếp 12 của vị tố. Vì vậy khi thay đổi số lượng cũng như chức năng nghĩa của các tham thể bắt buộc sẽ dẫn tới sự thay đổi ý nghĩa của vị tố. + Tham thể mở rộng là loại tham thể mà sự xuất hiện của nó nhằm bổ sung thêm một phương diện ý nghĩa nào đó cho cấu trúc vị tố - tham thể. Nó có thể là phương diện thời gian, nơi chốn; phương diện nguyên nhân, cách thức, điều kiện, mục đích, nhượng bộ… Chúng không do bản chất của vị tố quy định, chúng có thể có mặt ở nhiều (hay tất cả) các loại vị tố (sự tình).
Cần phải lưu ý rằng, sự phân biệt giữa tham thể bắt buộc và tham thể mở rộng cũng không hoàn toàn là tuyệt đối. Có những thực thể trong ngữ cảnh này là tham thể mở rộng nhưng trong ngữ cảnh khác lại là tham thể bắt buộc. Nghĩa tình thái Đây là phần nghĩa thể hiện quan hệ, tình cảm, thái độ giữa người nói với người nghe và sự đánh giá của người nói đối với sự việc được nói trong câu. Tình thái được xem là mặt nghĩa phức tạp nhất trong câu.
Nếu nghĩa miêu tả được thể hiện rõ ràng bằng ngôn từ thông qua cấu trúc vị tố - tham thể thì nghĩa tình thái được hiểu là loại nghĩa gắn với những từ ngữ chuyên dụng hoặc không chuyên dụng, gắn với tình huống giao tiếp mà ta phải thực hiện thao tác suy ý thì mới có thể hiểu được, và điều này rất khó để nắm bắt dụng ý của thông điệp.