Chương 1 đã khái quát lý do nghiên cứu, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu, giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài này. Chương 2 sẽ tập trung đề cập đến các cơ sở lý luận của đề tài, các khải niệm về đầu tư và tăng trưởng, các lý thuyết chính và các nghiên cứu trước mà đề tài căn cứ để xây dựng mô hình nghiên cứu và các biến trong mô hình nghiên cứu; đề tài cũng đánh giá tổng quan về việc thu hút đầu tư mở rộng đối với các doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. Đồng thời, trình bày phương pháp tìm ra các yếu tố tác động đến việc doanh nghiệp tăng đầu tư, các nghiên cứu trước, kết luận có liên quan đến nội dung của đề tài. Một số khái niệm a.
Doanh nghiệp: Trongnghiên cứu này sử dụng khái niệm theo luật doanh nghiệp năm 2014, doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Đầu tư của doanh nghiệp: là hoạt động tích lũy tài sản nhằm để gia tăng năng lực sản xuất tương lai của doanh nghiệp từ nguồn vốn của doanh nghiệp. Tài sản ở đây có thể do doanh nghiệp tự sản xuất hay là tích lũy từ bên ngoài. Vốn có thể là tiền, tài sản, sức lao động, trí tuệ.
Quá trình từ tích lũy vốn đến đầu tư được thể hiện qua 3 khâu: tiết kiệm, huy động tiết kiệm vào hệ thống tài chính và cuối cùng là đầu tư. Đầu tư: Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà nhà đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư.Nguồn lực được nói đến ở đây có thể là tiền, tài nguyên, công nghệ, nhà xưởng, sức lao động, trí tuệ… và các mục đích hướng tới chính là sự tăng lên về tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, bệnh viện, máy móc…), tài sản trí tuệ (trình độ chuyên môn, kỹ năng tay nghề, năng suất lao động, trình độ quản lý… ) trong nền sản xuất xã hội. Trong những kết quả đạt được trên đây, những kết quả trực tiếp của sự hy sinh các tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò quan trọng trong mọi lúc, mọi nơi không chỉ đối với người bỏ vốn mà cả đối với toàn bộ nền kinh tế.
Những kết quả này không chỉ nhà đầu tư mà cả nền kinh tế, xã hội được thụ hưởng. Chẳng hạn, một nhà máy được xây dựng, tài sản vật chất của nhà đầu tư trực tiếp tăng lên, đồng thời tài sản vật chất, tiềm lực sản xuất của nền kinh tế cũng được tăng thêm. Lợi ích trực tiếp do sự hoạt động của nhà máy này đem lại cho nhà đầu tư là lợi nhuận, còn cho nền kinh tế là thoả mãn nhu cầu tiêu dùng (cho sản xuất và cho sinh hoạt) tăng thêm của nền kinh tế, đóng góp cho ngân sách, giải quyết việc làm cho người lao động…Trình độ nghề nghiệp, chuyên môn của người lao động tăng thêm không chỉ có lợi cho chính họ (để có thu nhập cao, địa vị cao trong xã hội) mà còn bổ sung nguồn lực có kỹ thuật cho nền kinh tế để có thể tiếp nhận công nghệ ngày càng hiện đại, góp phần nâng cao dần trình độ công nghệ và kỹ thuật của nền sản xuất quốc gia (Từ Quang Phương, 2011) Moss David A (2007), đầu tư được hiểu là những chi tiêu nhằm tăng sản lượng hàng hóa và dịch vụ cuối cùng trong tương lai. Nó bao gồm việc mua sắm phục vụ kinh doanh như nhà xưởng, máy móc thiết bị, phần mềm, và tồn kho, cũng như chi 10 phí tiền công và tiền lương mà một đơn vị kinh doanh trả cho những người được thuê.
Blanchard (2000) (trích bởi Nguyễn Đình Sang, 2011), khái quát đầu tư với hai quan điểm. Theo quan điểm của chủ đầu tư, đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanh để thu được số vốn lớn hơn số vốn lớn hơn đã bỏ ra để thu lại lợi nhuận. Theo quan điểm xã hội (quốc gia), đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển, để thu được các hiệu quả kinh tế xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia. Các nhà kinh tế học dùng thuật ngữ đầu tư để chỉ việc mua hàng hóa vốn mới, chẳng hạn như máy móc, thiết bị, nhà xưởng.
Một số lý thuyết liên quan 2. Sự cần thiết phải đầu tư của doanh nghiệp Đầu tư phát triển có thể xem là hoạt động quan trọng nhất đối với mỗi doanh nghiệp, vì chỉ có đầu tư phát triển mới duy trì và hơn nữa là tiềm lực sản xuất của doanh nghiệp hay quốc gia đó. Để doanh nghiệp có thể tiến hành và phát triển sản xuất cần phải có vốn, lao động, trong đó yếu tố vốn bao gồm các chi phí để mua tư liệu lao động và đối tượng lao động với một trình độ công nghệ nhât định, chi phí để bồi dưỡng lao động đủ trình độ quản lý, sử dụng các tư liệu lao động đủ trình độ quản lý, sử dụng các tư liệu lao động và đối tượng lao động sản xuất ra sản phẩm với năng suất và chất lượng ngày càng cao. Để sản xuất với quy mô ngày càng lớn cần phải tăng các yếu tố đầu vào, tức là tăng chi phí cho các yếu tố đầu vào hay nói cách khác là tăng đầu tư cho các yếu tố này.
Tăng đầu tư vốn cho phép tăng các đầu vào kể cả số lượng và chất lượng (trích bởi Nguyễn Văn Hưởng, 2011). Theo Keynes, mỗi sự gia tăng về vốn đầu tư đều kéo theo sự gia tăng nhu cầu về nhân công và nhu cầu về tư liệu sản xuất. Do đó làm tăng việc làm và tăng nhu cầu tiêu dùng của nền kinh tế. Tất cả điều đó làm tăng thu nhập của nền kinh tế và đến lượt mình tăng thu nhập làm tăng đầu tư mới.
Vốn đầu tư là yếu tố đầu tiên cần phải có để hình thành nên các cơ sở sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho các cơ sở này hoạt động. Hoạt động mở rộng quy mô 11 sản xuất kinh doanh cũng cần vốn đầu tư phát triển.Đầu tư đã quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Bất kỳ doanh nghiệp nào đều cần phải xây dựng nhà xưởng, cơ sở hạ tầng, mua sắm tài sản, trang thiết bị và thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một chu kỳ của các cơ sở vật chất kỹ thuật đã được tạo ra. Từ đó làm nền tảng và giữ vai trò thúc đẩy doanh nghiệp tăng trưởng và phát triển.
Vai trò của đầu tư đối với sự phát triển doanh nghiệp Trong hoạt động đầu tư, doanh nghiệp đầu tư vốn dài hạn nhằm hình thành và bổ sung những tài sản cần thiết để thực hiện những mục tiêu kinh doanh. Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động kinh tế đặc thù với các mục tiêu, phương pháp và phương tiện cụ thể để đạt tới một trạng thái mong muốn. Nội dung của các dự án đầu tư được thể hiện trong hồ sơ kinh tế kỹ thuật của dự án, là văn bản phản ánh trung thực, chính xác về kết quả nghiên cứu thị trường, môi trường kinh tế kỹ thuật và môi trường pháp lý, về tình hình tài chính.và thời gian thực hiện của doanh nghiệp. Như vậy, đầu tư có thể xem là hoạt động quyết định sự phát triển và khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp (trích bởi Nguyễn Văn Hưởng, 2011) Trong quá trình hình thành hay quá trình hoạt động, để đáp ứng mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sỡ hữu, doanh nghiệp cần có chiến lược trong việc tìm kiếm và lựa chọn các dự án đầu tư.
Nếu không có ý tưởng và những dự án đầu tư mới, doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại và phát triển được. Theo cơ cấu tài sản, phân loại đầu tư thành: - Đầu tư tài sản lưu động, là khoản đầu tư nhằm hình thành các tài sản lưu động cần thiết để đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đầu tư tài sản tài chính, các doanh nghiệp có thể mua cổ phiếu, trái phiếu, hoặc tham gia góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp khác. - Đầu tư tài sản cố định, là các hoạt động đầu tư nhằm mua sắm, cải tạo, mở rộng hoạt động của doanh nghiệp.
Đầu tư tài sản cố định thường chiếm tỷ trọng lớn 12 trong tổng đầu tư của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp sản xuất. Bao gồm đầu tư xây lắp; đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, đầu tư tài sản cố định khác. Ngoài ra, căn cứ vào các mục đích đầu tư có thể phân loại đầu tư thành: đầu tư tăng năng lực sản xuất, đầu tư đổi mới sản phẩm, đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm, đầu tư mở rộng thị trường và nhiều dạng đầu tư khác. Hoạt động đầu tư là một trong những quyết định có ý nghĩa chiến lược đối với doanh nghiệp.
Đây là quyết định tài trợ dài hạn, có tác động lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Những sai lầm trong việc đầu tư có thể dẫn đến tình trang lãng phí vốn, thâm chí gây hậu quả nghiêm trọng đối với doanh nghiệp. Hoạt động đầu tư có vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp nên đòi hỏi các khả năng đạt được phải được tính toán và cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định đầu tư. Lý thuyết gia tốc về đầu tư Số nhân đầu tư giải thích mối quan hệ giữa việc gia tăng đầu tư với sản lượng hay việc gia tăng đầu tư có ảnh hưởng như thế nào tới sản lượng.
Như vậy, đầu tư xuất hiện như một yếu tố của tổng cầu. Theo Keynes, đầu tư còn được xem xét dưới góc độ tổng cung, nghĩa là mỗi sự thay đổi của sản lượng cũng làm thay đổi đầu tư như thế nào. Số nhân đầu tư cho thấy sản lượng gia tăng bao nhiêu khi đầu tư gia tăng một đơn vị. Mối liên hệ giữa mức gia tăng sản lượng và mức gia tăng đầu tư là: ∆Y= k .