CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VỐN ĐẦU TƯ CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ Như chúng ta đã biết, vốn là một trong những yếu tố quan trọng trong tăng trưởng và phát triển kinh tế ở một quốc gia. Ngay từ những nghiên cứu lý thuyết ban đầu, các nhà kinh tế đã khẳng định vốn đầu tư là một yếu tố không thể thiếu trong toàn bộ nền kinh tế nói chung hay kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng. Đặc biệt đối với các nước kém phát triển, để đạt được tốc độ tăng trưởng cao và ổn định thì cần phải có một khối lượng vốn rất lớn. Tuy nhiên nếu chỉ chú trọng thu hút nguồn vốn mà không chú trọng đến chất lượng đầu tư sẽ làm cho sự phát triển không được bền vững.
Điều này cho thấy tính cấp thiết của việc nghiên cứu về vốn đầu tư cho phát triển phát triển kinh tế. Sau đây chúng ta sẽ lần lượt đi vào những lý thuyết liên quan đến vấn đề này.1 Khái niệm đầu tư, vốn đầu tư, huy động vốn đầu tư Trong kinh tế học cổ điển đầu tư được hiểu là việc gia tăng các yếu tố sản xuất trong hiện tại nhằm mục đích tăng cường năng lực sản xuất trong tương lai. Các yếu tố sản xuất ở đây bao gồm rất nhiều loại như máy móc, thiết bị, công cụ lao động, nhà cửa …. Các yếu tố sản xuất này được hình thành bằng cách dùng tiền để mua hay từ tích lũy trong quá trình sản xuất.
Khoản tiền dùng để mua các yếu tố sản xuất cho hoạt động đầu tư được gọi là vốn đầu tư. Vì là nhân tố chính để hình thành yếu tố sản xuất đầu vào nên vốn đầu tư rất cần thiết và có ý nghĩa rất quan trọng trong phát triển kinh tế quốc gia. Vậy vốn đầu tư có được từ đâu? Theo nhà kinh tế học John Maynard Keynes (1884-1946) chứng minh trong lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ thì đầu tư chính bằng phần thu nhập mà không chuyển vào tiêu dùng và đồng thời tiết kiệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng, ta có: Y=C+I (Y: Thu nhập; C: tiêu dùng; I: đầu tư) S = Y – C (S: tiết kiệm) Từ hai công tức trên suy ra: I = S tức là đầu tư xã hội bằng tiết kiệm toàn xã hội, điều này cũng có nghĩa tiết kiệm là nguồn hình thành vốn đầu tư. Trong nền kinh tế mở, việc xác định nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế phức tạp hơn.
Nếu phần tích lũy của nền kinh tế lớn hơn nhu cầu đầu tư trong nước thì khi đó vốn sẽ được chuyển sang đầu tư ở nước khác nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế; và 2 ngược lại, nếu vốn tích lũy của nền kinh tế không đáp ứng đủ nhu cầu đầu tư thì khi đó nền kinh tế phải huy động tiết kiệm từ nước ngoài. Đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là những nước có thu nhập thấp thì quy mô và tỷ lệ tiết kiệm đều thấp trong khi yêu cầu phát triển kinh tế ngày càng cao, đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn. Điều đó đặt ra vấn đề là nhất thiết phải có nguồn hỗ trợ từ nước ngoài. Mặt khác trong nền kinh tế mở hiện nay các nước công nghiệp phát triển có lượng vốn dư thừa cũng có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài nhằm tăng thêm giá trị cho nguồn vốn nhàn rỗi, phát triển kinh tế quốc gia.
Như vậy ta có thể kết luận vốn đầu tư của một quốc gia có được chính là tổng số tiết kiệm trong nước và tiết kiệm ngoài nước. I = S = Sd + Sf Trong đó S: tổng tiết kiệm, Sd: tiết kiệm trong nước, và Sf: tiết kiệm nước ngoài Căn cứ vào nguồn tiết kiệm chúng ta có thể chia nguồn vốn đầu tư ra làm: nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Do các nguồn tiết kiệm phân bố giữa các bộ phận trong một quốc gia cũng như giữa quốc gia là khác nhau tạo nên sự phân tán trong nguồn vốn đầu tư. Bên cạnh đó trình độ phát triển cũng như tiềm năng hay lợi thế so sánh giữa các quốc gia, vùng miền là khác nhau cũng tạo nên nhu cầu về đầu tư và vốn đầu tư khác nhau.
Hơn nữa nguồn hình thành vốn đầu tư hay còn gọi là nguồn tiết kiệm thì có giới hạn trong khi nhu cầu về vốn đầu tư là vô hạn nên đã tạo ra một sự cạnh tranh trong thu hút vốn đầu tư. Các quốc gia, vùng miền có nhu cầu vốn đầu tư cao phải nhận diện được các nguồn vốn đang có trong xã hội và phải tìm cách lấy được các nguồn vốn này từ nhà đầu tư. Công tác này được gọi là huy động vốn đầu tư. Như vậy huy động vốn đầu tư là quá trình tổ chức khai thác các nguồn vốn đưa chúng vào phục vụ cho hoạt động đầu tư.
Quá trình tổ chức khai thác bao gồm: nhận diện, phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng và xây dựng kế hoạch để thu hút các nguồn vốn đầu tư tiềm năng từ các thành phần kinh tế. Từ khái niệm trên ta thấy, để có chính sách huy động vốn hiệu quả cho phát triển bền vững trước tiên chúng ta phải phân biệt được các nguồn vốn đầu tư, xác định được vai trò cũng như tầm quan trong của từng nguồn. Kế đến là tìm hiểu các yếu tố tác động đến khả năng huy động vốn đầu tư cũng như hiệu quả mà nó mang lại cho xã hội, trên cơ sở đó xây dựng chính sách huy động vốn hiệu quả.2 Các nguồn vốn đầu tư Trong phần 1.1 chúng ta đã biết trong nền kinh tế mở, nguồn hình thành vốn đầu tư là từ tiết kiệm trong nước và tiết kiệm nước ngoài, căn cứ vào đó chúng ta phân chia nguồn vốn đầu từ thành nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài.1 Các nguồn vốn đầu tư trong nước Nguồn vốn đầu tư trong nước là nguồn vốn hình thành từ tích lũy trong nội bộ nền kinh tế của quốc gia đó. Nguồn vốn này thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia; có ưu điểm là ổn định, bền vững, chi phí thấp và giảm được rủi ro do các yếu tố bên ngoài mang lại.
Do có những ưu điểm trên mà nguồn vốn trong nước có ý nghĩa quyết định trong công cuộc phát triển của mỗi quốc gia. Nguồn vốn trong nước phân loại như sau: 1.1 Vốn đầu tư ngân sách nhà nước Nguồn vốn ngân sách nhà nước là khoản tiết kiệm của nhà nước được hình thành từ khoản chênh lệch dương của ngân sách sau khi lấy tổng các khoản thu mang tính không hoàn lại trừ tổng các khoản chi thường xuyên. Thu ngân sách chủ yếu là từ các khoản thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu….và các khoản phí, lệ phí. Các khoản thuế này quan hệ mật thiết đến thu nhập của các cá thể, các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Nếu chính sách thu thuế không phù hợp sẽ làm nền kinh tế trì trệ không thể phát triển được, và kéo theo đó là nguồn thu từ thuế cũng giảm theo. Chính vì thế xây dựng chính sách thuế hợp lý để vừa khuyến khích đầu tư sản xuất kinh doanh, vừa đảm bảo khoản thu cho nhà nước là một bài toán khó đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách công. Ngoài việc xây dựng chính sách thuế phù hợp thì yếu tố hiệu quả của việc tổ chức thu thuế cũng phần nào ảnh hưởng đến tổng thu. Các khoản chi thường xuyên bao gồm: chi quản lý hành chính, chi sự nghiệp kinh tế, chi sự nghiệp xã hội như chi cho giáo dục, y tế, công trình công cộng, chi trợ giá….
Các khoản chi này góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân, và đảm bảo vai trò điều tiết kinh tế, xã hội của nhà nước. Tiết kiệm các khoản chi không hợp lý trong tổng các khoản chi này sẽ góp phần gia tăng tích lũy để sử dụng cho mục đích đầu tư. Nguồn vốn đầu tư nhà nước chủ yếu là để tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng cho xã hội chẳng hạn như xây dựng hệ thống mạng lưới điện, giao thông, thông tin truyền thông…. Thông qua các hoạt động đầu tư này một mặt tăng tiêu dùng cho xã hội mặt khác tạo ra 4 thêm các yếu tố sản xuất mới cho quốc gia thúc đẩy nền kinh tế phát triển; thặng dư xã hội được hình thành và ngày càng gia tăng ở tất cả các thành phần kinh tế.
Như vậy vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ khối lượng đầu tư, nó tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi và do đó giúp đẩy mạnh đầu tư của mọi thành phần kinh tế theo định hướng của nhà nước. Chính vì thế nó còn được sử dụng như là một công cụ trong điều tiết kinh tế vĩ mô của chính phủ.2 Vốn đầu tư của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trong nước Vốn đầu tư của doanh nghiệp được hình thành từ phần lãi sau thuế được các doanh nghiệp để lại dành cho đầu tư phát triển và nguồn vốn thu được từ khấu hao tài sản cố định. Quy mô nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp phụ thuộc vào: - Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. - Chính sách phân phối lợi nhuận của các doanh nghiệp.
- Vốn do doanh nghiệp tự huy động được như: vay ngân hàng, phát hành cổ phiếu… - Các chính sách vĩ mô của nhà nước như chính sách thuế, chính sách ưu đãi, chính sách tiền tệ, …. Nguồn vốn từ doanh nghiệp trong nước có ý nghĩa rất quan trọng đối với quốc gia bởi lý do nó có tính chất ổn định, không gây nợ cho quốc gia, đảm bảo phát triển bền vững cho quốc gia. Hơn thế nữa nguồn vốn này thường được sử dụng rất có hiệu quả vì nó liên đới trực tiếp đến chủ thể đầu tư; chính nhờ thế năng suất, chất lượng được gia tăng và kéo theo đó là sự phát triển ngày càng tăng của nền kinh tế.3 Vốn đầu tư của dân cư Vốn đầu tư của dân cư hình thành từ phần thu nhập để dành chưa tiêu dùng của các hộ gia đình. Khoản tiết kiệm này chuyển hóa thành vốn đầu tư thông qua hoạt động gửi tiết kiệm vào các ngân hàng, mua chứng khoán trên thị trường tài chính hay trực tiếp đầu tư kinh doanh ….