Chương 1 : Giới thiệu đề tài. Trong chương này, tác giả nêu ra lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cơ sở dữ liệu, ý nghĩa của đề tài và kết cấu của đề tài. Chương 2 : Những nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn kì hạn nợ của doanh nghiệp. Trong chương này, tác giả tóm tắt các nghiên cứu trước đây về tác động của các nhân tố: đòn bẩy tài chính, biến động lợi nhuận giữ lại, quy mô công ty, hiệu quả sử dụng tài sản, khả năng thanh toán hiện hành, thuế, cơ hội tăng trưởng, tính đáo hạn của tài sản, khả năng tiếp cận thị trường trái phiếu đến kì hạn nợ ở các thị trường tài chính trên thế giới.
Chương 3 : Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu. Ở chương này, tác giả nêu ra các giả thuyết, trình bày phương pháp, nguồn dữ liệu và đồng thời mô tả biến phụ thuộc và các biến độc lập được sử dụng trong bài nghiên cứu. Các nội dung ở chương này được làm cơ sở cho phần phân tích tiếp theo ở Chương 4. Chương 4 : Kết quả nghiên cứu.
Trong chương này, tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả các nhân tố tính đáo hạn của tài sản, quy mô công ty, cơ hội tăng 6 trưởng, hiệu quả sử dụng tài sản, biến động lợi nhuận giữ lại, khả năng thanh toán hiện hành, đòn bẩy tài chính, khả năng tiếp cận thị trường trái phiếu thể hiện qua giá trị trái phiếu, thuế và kì hạn nợ của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Rồi kiểm định hệ số tương quan của các nhân tố này với kì hạn nợ bằng mô hình Tobit Fixed Effects. Chương 5 : Kết luận. Trong chương này, tác giả tổng kết lại vấn đề nghiên cứu, các hạn chế của luận văn và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
7 CHƯƠNG 2 : NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN KÌ HẠN NỢ CỦA DOANH NGHIỆP Trong các nghiên cứu trước đây trên thế giới về kì hạn nợ, các chuyên gia kinh tế và tài chính đã xác định chi phí đại diện, bất cân xứng thông tin và thuế là các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn kì hạn nợ của các doanh nghiệp. Căn cứ vào đó, Michael J. Barclay và Clifford W. Smith (1995) cũng như Stohs và Mauer (1996) thực hiện bài nghiên cứu về các nhân tố tác động đến sự lựa chọn kì hạn nợ của doanh nghiệp dựa trên các ảnh hưởng này.
Bài nghiên cứu “The Maturity Structure of Corporate Debt” của Michael J. Barclay and Clifford W. Smith (1995): dựa trên các ảnh hưởng riêng lẻ của chi phí đại diện, bất cân xứng thông tin và thuế đến kì hạn nợ, Michael J. Barclay và Clifford W.
Smith (1995) đã cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự lựa chọn kì hạn nợ của doanh nghiệp. Dựa trên cơ sở dữ liệu Compustat của S&P được cập nhật hàng năm và dữ liệu của trung tâm nghiên cứu giá chứng khoán (CRSP) từ năm 1974 đến 1992, nhóm tác giả đã tiến hành kiểm tra thực nghiệm các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn kì hạn nợ của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả ủng hộ kết quả chi phí đại diện, bất cân xứng thông tin và thuế có ảnh hưởng đến sự lựa chọn kì hạn nợ của doanh nghiệp. Cụ thể như sau: Ảnh hưởng của chi phí đại diện đến sự lựa chọn kì hạn nợ của doanh nghiệp Kết quả thực nghiệm của nhóm tác giả cho thấy qui mô công ty có tác động đến sự chọn lựa kì hạn nợ của doanh nghiệp.
Những công ty có qui mô lớn có chi phí đại diện cao vì có nhiều cấp bậc quản lý khác nhau, dẫn đến việc tạo cơ hội cho ban quản lý doanh nghiệp trục lợi tài sản của công ty, hoặc lơ là trong hoạt động quản lý. Tuy vậy, các công ty có qui mô lớn lại thường có được độ tín nhiệm cao từ các chủ nợ nên dễ dàng huy động vốn khi cần thiết, vì vậy họ thường chọn 8 phát hành các khoản nợ dài hạn với lãi suất thấp, ngược lại các công ty có qui mô nhỏ thì bị hạn chế trong việc tiếp cận với các thị trường vốn để tìm các nguồn vốn hỗ trợ cho tăng trưởng nên họ thường sử dụng các khoản nợ ngắn hạn với lãi suất cao nhưng điều kiện xét duyệt cho vay dễ dàng. Kết quả thực nghiệm từ nghiên cứu của nhóm tác giả cũng cho thấy cơ hội tăng trưởng của doanh nghiệp có tác động đến sự lựa chọn kì hạn nợ. Mâu thuẫn giữa các cổ đông và nhà quản lý trong việc lựa chọn thực hiện các dự án ở các công ty đang trong giai đoạn tăng trưởng và có nhiều cơ hội đầu tư sinh lời là khá cao.
Trong giai đoạn tăng trưởng, doanh nghiệp có doanh số tăng trưởng nhanh phải đầu tư thêm nhiều cho các hoạt động phát triển thị trường, mở rộng thị phần, mua thêm tài sản cố định nên rủi ro kinh doanh của các doanh nghiệp tăng trưởng sẽ rất cao. Khi đương đầu với rủi ro kinh doanh cao, doanh nghiệp sẽ khó tiếp cận với các nguồn vốn từ các chủ nợ nên họ thường phát hành nợ ngắn hạn. Bởi vì nợ ngắn hạn có lãi suất cao tương ứng với rủi ro cao và luôn được ưu tiên thanh toán trước nợ dài hạn khi doanh nghiệp đối mặt với phá sản, các chủ nợ sẽ dễ dàng hơn khi xem xét các khoản cho doanh nghiệp vay. Trong bài nghiên cứu này, nhóm tác giả cũng đề cập tới ảnh hưởng bởi tính đáo hạn của tài sản đến kì hạn nợ.
Doanh nghiệp thường tài trợ các tài sản có tuổi thọ dài như nhà máy, máy móc và thiết bị bằng nợ vay dài hạn. Các tài sản này phục vụ sản xuất hay cung cấp dịch vụ qua nhiều năm nên doanh nghiệp sẽ thu được tiền từ việc bán các sản phẩm hay dịch vụ được tạo ra từ tài sản cố định trong thời gian dài ở từng kì cụ thể. Số tiền này dùng để trả các khoản nợ tài trợ cho việc mua tài sản cố định trong từng giai đoạn và sử dụng cho các mục đích khác nhau. Nếu tài sản hết thời hạn sử dụng hữu ích trong khi các khoản nợ tài trợ vẫn còn, doanh nghiệp sẽ không thu đủ tiền để trả các khoản nợ đúng hạn, kiệt quệ tài chính có thể xảy ra.
Vì vậy, các doanh nghiệp đều cố gắng sắp xếp phù hợp kì hạn của tài sản cố định và kì đến hạn của các khoản nợ. 9 Ảnh hưởng của bất cân xứng thông tin đến sự lựa chọn kì hạn nợ của doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty có tiềm năng phát triển cao, chất lượng tín dụng tốt khi bị bất cân xứng thông tin sẽ phát hành nhiều nợ ngắn hạn để giải quyết nhu cầu về vốn nhằm phát triển sản xuất kinh doanh. Trong giai đoạn này, do các chủ nợ không đánh giá đúng khả năng trả nợ nên các công ty có tiềm năng phát triển cao phải vay nợ với lãi suất cao cùng với điều kiện xét duyệt cho vay khắt khe, tài sản thế chấp cao hơn nhiều so với giá trị vay. Vì vậy, việc phát hành nợ dài hạn để tài trợ cho các dự án đầu tư trong thời gian này là hoàn toàn không hợp lý.
Ngoài ra, nhóm tác giả cũng nhận thấy trong thị trường bất cân xứng thông tin khi những người trong nội bộ công ty tiếp cận thông tin về khả năng thanh toán các khoản nợ của công ty nhanh hơn các chủ nợ bên ngoài thì tính thanh khoản trở thành nhân tố cung cấp các tín hiệu rõ nhất về khả năng tín dụng của công ty. Doanh nghiệp có tính thanh khoản tốt sẽ có mức tín nhiệm cao từ các chủ nợ, lúc đó khả năng huy động vốn dài hạn với lãi suất thấp của doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn. Kết quả thực nghiệm của nhóm tác giả cũng cho thấy mối quan hệ đồng biến giữa xếp hạng trái phiếu Standard & Poor’s và sự lựa chọn kì hạn nợ. Xếp hạng trái phiếu là phán đoán về các triển vọng tài chính và kinh doanh cũng như phản ánh xác suất vỡ nợ của doanh nghiệp.
Hầu hết nợ vay dài hạn của doanh nghiệp thường là dưới hình thức phát hành các loại trái phiếu. Doanh nghiệp có xếp hạng trái phiếu cao có xác suất vỡ nợ thấp, triển vọng tài chính tốt thường được nhận nhiều ưu đãi của chủ nợ nên việc phát hành trái phiếu hay vay nợ dài hạn với lãi suất thấp trở nên rất dễ dàng. Ảnh hưởng của thuế đến sự lựa chọn kì hạn nợ của doanh nghiệp: trong nghiên cứu của mình, nhóm tác giả không tìm thấy tác động của thuế đến sự lựa chọn kỳ hạn nợ của doanh nghiệp. 10 Bài nghiên cứu “The determinants of corporate debt maturity structure” của Stohs và Mauer (1996): Cũng dựa trên các nghiên cứu về ảnh hưởng của chi phí đại diện, bất cân xứng thông tin và thuế đến sự lựa chọn kì hạn nợ của doanh nghiệp để kiểm tra nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến kì hạn nợ, nghiên cứu của Stohs và Mauer (1996) cũng đưa ra những kết quả gần giống với kết quả nghiên cứu của Michael J.
Barclay và Clifford W. Tuy nhiên, Stohs và Mauer cho rằng kết quả hồi quy của Michael J. Barclay và Clifford W. Smith thiếu kiểm soát đối với đòn bẩy tài chính nên họ đề nghị đưa thêm biến kiểm soát đòn bẩy tài chính vào để kiểm tra ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản lên kì hạn nợ.
Trong bài nghiên cứu của mình, Stohs và Mauer đã đo lường cấu trúc kỳ hạn nợ bằng cách kết hợp tất cả các khoản nợ của một công ty. Sử dụng tập dữ liệu bảng của 328 doanh nghiệp công nghiệp trong giai đoạn 10 năm 1980-1989 thu thập được từ cơ sở dữ liệu của Moody, nhóm tác giả đo lường cấu trúc kỳ hạn nợ của các công ty có sẵn trong mẫu bằng cách tính trung bình trọng số kì hạn nợ của toàn bộ tất cả các khoản nợ vay và nghĩa vụ nợ. Biện pháp đo lường này khắc phục được những hạn chế liên quan đến phát hành nợ riêng lẻ và đánh giá gần đúng về cấu trúc kỳ hạn nợ dựa trên việc kết hợp thông tin một cách rõ ràng tất cả các kỳ hạn thanh toán của các nghĩa vụ nợ trong công ty.