Chương 1 Giới thiệu Chương 2 Cơ sở lý thuyết Chương 3 Phương pháp nghiên cứu Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5 Kết luận và kiến nghị 4 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Tổng quan lý thuyết về thuế 2. Nguồn gốc và bản chất của thuế Thuế ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước. Nhà nước ra đời là một tất yếu khách quan; vì vậy thuế là một tất yếu khách quan với chức năng chủ yếu và đầu tiên là nhằm bảo đảm nguồn tài chính phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước.
Để hoạt động được Nhà nước cần phải có nguồn tài chính để chi tiêu, trước hết là chi cho việc duy trì và củng cố tổ chức bộ máy Nhà nước từ trung ương đến cơ sở trong cả nước; chi cho những công việc thuộc chức năng Nhà nước như: quốc phòng, an ninh, chi cho xây dựng và phát triển các cơ sở hạ tầng; chi cho các vấn đề phúc lợi công cộng, về sự nghiệp, về xã hội trước mắt và lâu dài. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước càng lớn, cả về phạm vi và qui mô chi tiêu. Bộ máy Nhà nước bao gồm một số người không trực tiếp sản xuất, không tạo ra thu nhập, nhưng lại rất cần có nguồn tài chính để chi tiêu và nguồn tài chính đó chỉ có thể lấy từ việc động viên đóng góp một phần thu nhập xã hội do các tầng lớp dân cư trong xã hội trực tiếp lao động sản xuất tạo ra. Lịch sử ra đời và phát triển của Nhà nước trong các chế độ xã hội trước đây và hiện nay đã chứng minh rằng Nhà nước có ba hình thức động viên một phần thu nhập xã hội để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình là quyên góp, vay của dân và dùng quyền lực của Nhà nước buộc dân phải đóng góp.
Trong 3 hình thức trên thì quyên góp phải tùy thuộc vào khả năng và sự tự nguyện của mọi người, do đó nó không công bằng, không lâu dài, không bảo đảm đuợc yêu cầu chi tiêu của Nhà nước, cho nên nó không cơ bản và chỉ được sử dụng trong những tình huống đặc biệt. Hình thức vay dân thì có vay phải có trả nhưng Nhà nước không tạo ra thu nhập thì không thể trả cho người dân. Do đó hình thức vay dân cũng không phải là cứu cánh mà nó chỉ đuợc sử dụng trong một số hoàn cảnh đặc biệt. Rõ ràng chỉ có hình thức buộc dân đóng góp là cơ bản nhất, và đây cũng chính là một trong những đặc trưng cơ bản của Nhà nước.
Và hình thức để buộc dân đóng góp đó chính là thuế. 5 Trong các sách báo kinh tế trên thế giới, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối khái niệm về thuế. Nhiều quan điểm đưa ra mới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế nên chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất của phạm trù này. Mặc dù còn tồn tại một số bất đồng, song hầu hết các nhà kinh tế đều thống nhất rằng: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các thể nhân và pháp nhân, được Nhà nước qui định thông qua hệ thống pháp luật nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước.
Từ nguồn gốc ra đời và khái niệm của thuế, rõ ràng thuế có bản chất kinh tế - chính trị - xã hội rất sâu sắc. Bản chất kinh tế của thuế thể hiện trước hết thuế là một phần thu nhập của xã hội được tập trung để phục vụ nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Thuế ra đời gắn liền với Nhà nước, do đó thuế ở chế độ xã hội nào thì mang bản chất của Nhà nước đó. Tuy nhiên, thuế có những thuộc tính bên trong, vốn có làm cho nó có tính tương đối ổn định qua từng giai đoạn phát triển và tạo nên những đặc trưng riêng để phân biệt thuế với các công cụ tài chính khác với các đặc trưng cơ bản.
Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền theo phương thức đánh thuế trong nền kinh tế thị trường, về nguyên tắc, thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, khác với hình thức nộp thuế bằng hiện vật đã tồn tại từ thời xa xưa hoặc khác với chế độ giao nộp sản phẩm trong nền kinh tế phi thị trường. Nhiều quan điểm cho rằng, đây chính là sự khác biệt cơ bản và đầu tiên của thuế trong nền kinh tế thị trường và thuế trong các nền kinh tế khác. Luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước, đặc điểm này thể hiện tính pháp lý tối cao của thuế. Thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến Pháp - Đạo luật gốc của một quốc gia.
Theo quan điểm này, công dân không có quyền từ chối trả thuế, cũng không có quyền tự ấn định hay thỏa thuận mức đóng góp của mình, mà chỉ có quyền chấp hành. Trường hợp đối tượng nộp thuế nào cố tình không chấp hành sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế của mình theo luật 6 định. Đây là đặc trưng cơ bản nhất của thuế nhằm phân biệt với tất cả các hình thức động viên tài chính cho Ngân sách Nhà nước khác. Luôn gắn liền với thu nhập, đặc điểm này thể hiện rõ nội dung kinh tế của thuế.
Nhà nước thực hiện thu thuế thông qua quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, mà kết quả của nó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao bắt buộc cho Nhà nước mà không kèm theo bất kỳ một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế. Với đặc điểm này, thuế không giống như các hình thức huy động tài chính tự nguyện hoặc hình thức phạt tiền tuy có tính chất bắt buộc, nhưng chỉ áp dụng đối với những tổ chức cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật. Không hoàn trả trực tiếp và được sử dụng để đáp ứng chi tiêu công cộng. Tính chất không hoàn trả trực tiếp được thể hiện trên các khía cạnh: Thứ nhất, thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong xã hội cho Nhà nước mang tính bắt buộc, phi hình sự.
Đặc điểm này đã thể hiện rõ nguồn hình thành nên các khoản thuế là thu nhập do hoạt động kinh tế của các thể nhân và pháp nhân tạo ra. Ở bất cứ một quốc gia nào, hệ thống thuế cũng bao gồm nhiều loại thuế nhằm điều chỉnh đối với nhiều đối tượng khác nhau. Có loại thuế điều chỉnh thu nhập, có loại thuế điều chỉnh tiêu dùng, có loại thuế điều chỉnh tài sản., nhưng suy cho cùng thì chúng đều điều chỉnh đối với thu nhập của các tầng lớp trong xã hội. Thứ hai, thuế là một khoản chuyển giao thu nhập không mang tính hoàn trả trực tiếp.
Sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thừa hưởng những dịch vụ và hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp. Người nộp thuế suy cho cùng sẽ nhận được một phần các dịch vụ công cộng mà Nhà nước cung cấp chung cho cả cộng đồng, giá trị phần dịch vụ đó không nhất thiết tương đồng với khoản tiền thuế mà họ nộp cho Nhà nước. Thứ ba, việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế được qui định trước bằng pháp luật. Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý cao của thuế.
Việc chuyển giao thu 7 nhập không mang tính chất tuỳ tiện mà dựa trên cơ sở khoa học và đã được xác định trong các luật thuế. Nhà nước mà đại diện là cơ quan quản lý thu thuế không thể lạm dụng quyền hành một cách tùy tiện trong hoạt động thu thuế. Việc thu thuế của Nhà nước phải được các tầng lớp dân cư thừa nhận thông qua người đại diện cao nhất của mình là Quốc hội. Quốc Hội xác lập quyền thu thuế của Chính phủ bằng hệ thống pháp luật về thuế.
Những nội dung thường được xác định trước trong Luật thuế là: Đối tượng đánh thuế, đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, mức thuế phải nộp, thời hạn nộp thuế và các chế tài nhằm bảo đảm thực thi pháp luật một cách nghiêm minh. Thứ tư, thuế là khoản thu nhập của Nhà nước chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia trong từng thời kỳ nhất định. Thuế là hình thức động viên thu nhập từ các hoạt động kinh tế của các thể nhân và pháp nhân. Do đó thuế chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố về kinh tế, đó là: mức độ tăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, giá cả thị trường, sự biến động của NSNN.
Tuy nhiên, thuế cũng có tính độc lập riêng có. Nhà nước sử dụng công cụ thuế để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tác động trở lại nền kinh tế, ưu tiên, khuyến khích hay kìm hãm sự phát triển một số ngành nghề, lĩnh vực kinh tế theo yêu cầu chiến lược phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước. Thuế có quan hệ chặt chẽ với lợi ích của các tầng lớp dân cư. Mà vấn đề lợi ích vật chất là vấn đề nhạy cảm, gắn chặt với vấn đề chính trị, xã hội.
Do đó, thuế chịu sự chi phối bởi yếu tố chính trị, xã hội. Các yếu tố đó là: thể chế chính trị của Nhà nước, tâm lý, tập quán của các tầng lớp dân cư, truyền thống văn hóa, xã hội của dân tộc. Do thuế chịu sự ràng buộc của nhiều yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội như trên, nên người ta thường nói thuế mang ý nghĩa kinh tế, chính trị xã hội tổng hợp. Chức năng của thuế Thuế không những là một phạm trù kinh tế mà còn là một phạm trù tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính chung vốn có của các quan hệ tài chính.
Tuy nhiên, thuế cũng có những đặc trưng, hình thức vận động và các chức năng riêng có của mình 8 bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ tài chính. Hiện nay, có nhiều cách phân loại khác nhau về chức năng của thuế từ mức độ tổng quát cũng như mức độ cụ thể. Nhìn chung, chức năng của thuế được thừa nhận từ lâu nay là chức năng phân phối và điều tiết kinh tế.