Chương 1: Giới thiệu luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC. Rủi ro tín dụng Theo "Từ điển thuật ngữ ngân hàng, Barron’s Educational, Inc, 1997" của Thomas P. Fitch, rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi người vay không đáp ứng được hợp đồng nghĩa vụ trả nợ theo các điều khoản đã thỏa thuận.
Theo "Phân tích rủi ro ngân hàng: Khuôn mẫu đánh giá mức độ quản lý doanh nghiệp và quản lý rủi ro tài chính, 2000" của Van Greuning, Hennie; Brajovic, Sonjia, rủi ro tín dụng được xác định là người vay không trả lãi hoặc trả nợ gốc so với thời gian quy định trong hợp đồng tín dụng. Đây là bản chất vốn có của hoạt động kinh doanh của các NHTM. Rủi ro tín dụng là sự chậm trả nợ hoặc trong trường hợp xấu hơn: hoàn toàn không còn khả năng thanh toán. Điều này gây ra nhiều vấn đề cho dòng tiền, ảnh hưởng đến thanh khoản của các NHTM.Lange (2000) xác định rằng: Rủi ro tín dụng là một khoản lỗ tiềm ẩn khi NHTM cung cấp khoản vay tín dụng cho khách hàng, hoặc khả năng dòng thu nhập dự kiến từ các khoản vay của NHTM không thể thực hiện đầy đủ cả số lượng lẫn thời hạn yêu cầu.Koch (1995) đưa ra rằng một NHTM nắm giữ tài sản sản xuất, rủi ro có thể xảy ra khi khách hàng không trả nợ kịp thời: nghĩa là khách hàng không thể trả gốc và lãi theo hợp đồng đã ký.
Rủi ro tín dụng có nghĩa là bất kỳ thay đổi tiềm ẩn nào của thu nhập ròng và giá trị thị trường của vốn phát sinh từ khách hàng không thành công trong thanh toán hoặc thanh toán trễ. Tại Việt Nam, theo thông tư số 02/2013/TT-NHNN của Thống đốc NHNN quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khác hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. 8 Theo quy định số 22/2014/VBHN-NHNN quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, "rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng" là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức do khách hàng không thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Từ định nghĩa trên, rủi ro tín dụng có thể được định nghĩa rộng rãi là rủi ro tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc gián tiếp) khi người vay không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo các cam kết hoặc họ không thể trả lại.
Phân loại rủi ro tín dụng của NHTM 2. Căn cứ vào mức độ tổn thất của rủi ro tín dụng. Khi căn cứ vào mức độ tổn thất, ta có thể cho rủi ro tín dụng thành hai loại bao gồm rủi ro đọng vốn và rủi ro mất vốn. Rủi ro mất vốn: Rủi ro mất vốn là loại rủi ro xảy ra do người đi vay không có khả năng trả nợ cả vốn gốc và lãi vay theo quy định trong hợp đồng tín dụng.
Ngân hàng cho vay sẽ chỉ thu hồi được một phần tiền đã cho vay dựa trên giá trị thanh lý tài sản thế chấp của người đi vay. Rủi ro mất vốn sẽ làm tăng nhiều loại chi phí của ngân hàng như chi phí quản lý, chi phí giám sát, chi phí do nợ khó đòi tăng; đồng thời làm giảm lợi nhuận do các khoản dự phòng gia tăng cho những khoản vốn mất đi. Rủi ro đọng vốn: Rủi ro đọng vốn là loại rủi ro xảy ra do một ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay dù đã đến hạn, khiến cho các khoản vốn bị đông cứng, ảnh hưởng đến kế hoặc sử dụng vốn của chính ngân hàng đó và làm cho ngân hàng gặp phải khó khăn trong việc thanh toán cho khách hàng. Căn cứ vào phạm vi rủi ro tín dụng.
Khi căn cứ vào phạm vi rủi ro tín dụng, ta có thể chia rủi ro tín dụng thành hai nhóm là rủi ro cá biệt và rủi ro hệ thống. Rủi ro cá biệt: Rủi ro cá biệt là loại rủi ro xảy ra với khoản vay của một khách hàng cụ thể hoặc một nhóm ngành cụ thể. Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến rủi ro tín dụng cá biệt như đặc điểm ngành và loại hình kinh tế của người đi vay, tình hình tài chính của người đi vay, khả năng quản trị của người đi vay, đạo đức của người đi vay, v. Rủi ro hệ thống: Rủi ro hệ thống là loại rủi ro mang tính chất hệ thống.
Rủi ro này không chỉ xảy ra với một ngân hàng mà còn có thể lan rộng ra các ngân hàng khác trong toàn hệ thống ngân hàng. Sự thay đổi các chính sách như chính sách tiền tệ, chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu là nguyên dân dẫn đến loại rủi ro hệ thống này. Bên cạnh đó, các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế như tỷ lệ lạm phát, thu nhập bình quân đầu người, chỉ số giá tiêu dùng, tỷ lệ thất nghiệp, chính sách pháp luật, môi trường đầu tư, v. cũng gây ra ảnh hưởng đến rủi ro hệ thống.
Ngân hàng cần phải có dự báo đúng đắn về tình hình kinh tế vĩ mô thì mới có thể hạn chế được loại rủi ro này. Căn cứ vào thành phần rủi ro tín dụng. Khi căn cứ vào thành phần rủi ro tín dụng, ta có thể chia rủi ro tín dụng thành các nhóm rủi ro như sau: Rủi ro mặc định: Rủi ro mặc định là loại rủi ro xảy ra khi người đi vay không có khả năng hoàn trả toàn bộ số tiền đã vay hoặc khi người đi vay nợ quá 90 ngày kể từ ngày đáo hạn của khoản tiền nợ. 10 Rủi ro tín dụng mặc định gây ảnh hưởng đến tất cả các giao dịch nhạy cảm với tín dụng như các khoản vay, chứng khoán và công cụ chứng khoán phái sinh.
Các ngân hàng sẽ kiểm tra rủi ro tín dụng mặc định của người đi vay trước khi phê duyệt cho họ một khoản vay cá nhân hoặc đồng ý cho họ mở thẻ tín dụng. Rủi ro tập trung: Rủi ro tập trung là loại rủi ro xảy ra khi một khách hàng được ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều. Rủi ro tập trung cũng xảy ra đối với trường hợp ngân hàng cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Rủi ro quốc gia: Rủi ro quốc gia là loại rủi ro phát sinh từ một quốc gia có chủ quyền khi nó đóng băng các khoản thanh toán cho các khoản vay mặc định qua đêm bằng ngoại tệ hoặc nghĩa vụ của ngoại tệ.
Rủi ro quốc gia liên quan đến việc thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của một quốc gia và sự ổn định chính trị bên trong quốc gia đó. Sự bất ổn đột ngột có xu hướng xảy ra trong những cuộc bầu cử cũng là nguyên nhân làm cho rủi ro quốc gia tăng cao. Căn cứ vào rủi ro trong quá trình giao dịch. Rủi ro lựa chọn: Rủi ro lựa chọn là loại rủi ro xảy ra trong quá trình đánh giá phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả trước khi tiến hành ra quyết định cho vay.
Rủi ro bảo đảm: Rủi ro bảo đảm là loại rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản về những loại tài sản bảo đảm được nêu trong hợp đồng cho 11 vay, chủ thể bảo đảm, cách thức bảo đảm và mức cho vay trên giá trị tài sản bảo đảm. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 2. Nguyên nhân thuộc về ngân hàng. Chính sách tín dụng: Chính sách tín dụng là tổng thể các quy định của ngân hàng về hoạt động tín dụng nhằm đưa ra định hướng và hướng dẫn hoạt động của nhân viên ngân hàng trong việc cấp tín dụng cho khách hàng.
1 Chính sách tín dụng là một bộ phận quan trọng trong hệ thống quản lý, điều hành hoạt động tín dụng của ngân hàng. Chính sách tín dụng định hướng các ngân hàng đến danh mục cho vay có hiệu quả, hướng dẫn nhân viên tín dụng các thủ tục, các bước công việc cần thiết để thực hiện tốt hoạt động cho vay. Chính vì vậy mà các ngân hàng cần xây dựng cho mình chính sách tín dụng cụ thể, hợp lý, minh bạch, rõ ràng nhằm đem lại hiệu quả cao nhất về kinh tế. Chính sách tín dụng của ngân hàng nếu không rõ ràng, minh bạch thì sẽ dẫn đến sự lệch lạc trong hoạt động tín dụng; vốn tín dụng không được cấp đúng đối tượng; người sử dụng vốn sẽ lợi dụng khe hở mà vi phạm hợp đồng tín dụng và pháp luật nhà nước đề ra, sử dụng vốn không đúng mục đích,.
Sự yếu kém của đội ngũ nhân viên, công nhân viên: Sự yếu kém của đội ngũ nhân viên, công nhân viên biểu hiện ở hai mặt là năng lực và phẩm chất đạo đức. Nhân viên tín dụng non kém về trình độ; thiếu kiến thức về ngành nghề mình đang cho vay; thiếu kinh nghiệm thực tế; chủ quan quá mức vào khách hàng, coi nhẹ các khâu kiểm tra tình hình tài chính, khả năng thanh 1 Luật các tổ chức tín dụng (2010). 12 toán nợ trong tương lai, nguồn trả nợ thì nhân viên đó sẽ xử lý thông tin không tốt, có khả năng thẩm định thiếu chính xác dẫn đến chất lượng tín dụng thấp và gây ra rủi ro cao cho ngân hàng. Bên cạnh đó, khi nhân viên tín dụng không tuân thủ đúng quy trình tín dụng thì việc mất vốn rất dễ xảy ra.
Ngoài ra, phẩm chất đạo đức của nhân viên tín dụng rất quan trọng. Nếu nhân viên tín dụng không có trách nhiệm; dễ bị cám dỗ; cố ý làm trái cho vay những dự án xin vay có tính khả thi thấp hoặc chỉ dựa vào mối quan hệ với người xin vay, vào lợi ích cá nhân của mình mà bỏ qua những điều kiện và thủ tục cần thiết thì rất dễ tạo thành những khoản nợ xấu gây thiệt hại lớn cho ngân hàng.