Đặt vấn đề Bệnh dai là bệnh do virus hướng thần kinh, gây viêm não tủy cấp tính có thé gặp ở nhiều loài động vật máu nóng và người. Trong đó, chó là ô chứa chính của bệnh. Theo ước tính của WHO (2022), khoảng 59.000 người chết mỗi năm do nhiễm dai từ chó, bệnh lây truyền chủ yếu do các chất tiết bị nhiễm, thường do vết can, vết liếm của động vật mặc bệnh. Theo OIE (2009), thời gian ủ bệnh có thể thay đối từ vài tuần đến vài tháng, nhưng một khi các triệu chứng bệnh dại xuất hiện thì căn bệnh này luôn gây tử vong cho cả động vật và người.
Hầu hết các trường hợp tử vong do bệnh đại, cả ở người và động vật, là do không được tiếp cận đầy đủ với các nguồn lực y tế và điều trị dự phòng hay nhận thức kém về bệnh. Theo thống kê của WHO (2022) bệnh từng phân bồ ở hau hết các nước trên thế giới, nhưng hiện nay chỉ còn tồn tại ở các nước nhiệt đới châu Phi, châu Á. Nhiều nước ở Tây Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số khu vực của Châu Mỹ La-tinh đã cơ bản thanh toán được bệnh dại trên động vật và người. Ở nước ta hiện nay bệnh dại vẫn còn xảy ra qua nhiều năm.
Bệnh xảy ra quanh năm, nhưng tập trung vào các tháng nóng âm từ mùa hè đến mùa thu (Phạm Sỹ Lăng và Hoàng Văn Năm, 2012) và bệnh còn lưu hành ở những vùng xa xôi hẻo lánh, do chó nuôi thả rông, tiêm phòng tỷ lệ tiêm phòng thấp (Bộ Y tế, 2013). Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NN-PTNT) - Bộ Y tế, trong năm 2021 cả nước có 53 người người chết vì bệnh dại và 531.204 người phải đi điều trị dự phòng bệnh dại. Các tỉnh thường có bệnh đại bao gồm: Nghệ An, Đắk Lắk, Sơn La, Gia Lai, Thanh Hóa, Kon Tum, Thái Nguyên, Ca Mau. Theo thống kê của Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản Long An (2021) tại tỉnh Long An, từ năm 2019 — 2021 có 7 trường hợp chết do bệnh dại trên người, 7 trường hợp bệnh đại trên chó mẻo.
Bệnh dại sẽ có nguy cơ lan rộng nếu không có những biện pháp can thiệp kịp thời và đồng bộ. Do đó, kiểm soát và loại bỏ bệnh lây truyền từ động vật sang người có nghĩa là loại bỏ ngay tại nguồn động vật lây bệnh thông qua kiểm dịch động vật cũng như chiến lược tiêm phòng trên động vật, và hơn hết là nâng cao sự hiểu biết của người dân trong việc phòng bệnh. Theo Quyết định số 2151/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 21/12/2021 về việc phê duyệt “Chương trình quốc gia phòng, chống bệnh Dại, giai đoạn 2022 - 2030” nhấn mạnh vai trò của tiêm phòng trên chó, điều tra các 6 dich, và truyền thông cho người dan. Với tình hình bệnh dai tại Long An, sự hướng dẫn của PGS.
Lê Thanh Hiền, chúng tôi thực hiện đề tài “Phân tích các trường hợp chó, mèo nghỉ dai sau khi cắn người và đánh giá nhận thức của học sinh về bệnh đại tại tỉnh long an giai đoạn 2022-2023”. Mục đích Đề tài được tiến hành đề tìm hiéu về biểu hiện của các trường hợp chó, mèo nghi ngờ đại cắn người và đánh giá nguy cơ bệnh đại tại địa phương thông qua lay mẫu xét nghiệm kiểm tra bệnh dại. Đồng thời đề tài cũng phân tích nhận thức của học sinh một số trường học về bệnh dại dé từ đó có cơ sở phòng chống được bệnh đại trên vật nuôi và trên người một cách hiệu quả. Yêu cầu Phát hiện các trường hợp người bị chó, mèo cắn thông qua hệ thống giám sát của địa phương.
Theo dõi biểu hiện của chó, mèo khi cắn người và cập nhật kịp thời tình hình bệnh đại ở chó, mèo khi cắn người trong 10 ngày. Lay mau bénh pham xac nhan su hién dién cua virus dai tai dia phuong néu nghi bénh dai Bồ trí khảo sát nhận thức của học sinh về phòng chống bệnh dai. Chươ ng 1 TỎNG QUAN 1. Dịch té học bệnh dai 1.
Đặc điểm virus gây bệnh Dại Virus gây bệnh đại thuộc họ Rhabdoviridae, giống Lyssavirus. Có hơn 100 chủng của họ Rhabdoviridae phân bồ trong tự nhiên có thể gây nhiễm cho động vật và thực vật. Đây là virus có RNA làm vật chất di truyền của nó có vỏ bọc, hình viên đạn, kích thước 75 x 180 nm (Hình 1. RNA sợi đơn không phân đoạn, mã hóa cho 5 protein: protein vỏ bao nucleocapsid (N), phosphoprotein (P), protein sinh nên (matrix — M protein), glycoprotein (G), va enzyme polymerase phụ thuộc RNA (RNA-dependent polymerase, ky hiéu la L) (Greene, 2006).
Các virus này đã phân lập được trên khắp thế giới va được cho là có chung một chủng kháng nguyên. Tuy nhiên, các kỹ thuật áp dụng các kháng thé đơn dong (monoclonal antibodies) và các xét nghiệm các protein của virus va các kỹ thuật phân tích di truyền đã cung cấp những bằng chứng về các khác biệt về kháng nguyên (các biến thé — variants) giữa các dòng phân lập khác nhau từ các ký chủ hoang da và thuần dưỡng trong từng vùng dịch tễ. Hiện virus dại được chia thành 6 serotypes hay 7 genotypes (Bảng 1. Các virus bệnh dai có vỏ bọc nên dé bị bất hoạt bởi các dung dich formalin, phenol, alcohol, halogens, thủy ngân, các acid vô co, và các chất sát trùng khác.
Virus nhạy cảm với các dung môi lipid (dung dịch xà phòng, ether, chloroform, acetone), cồn 45 — 70%, i-ốt, và các hợp chất amoni bậc bốn diệt virus trong vòng một phút. Virus dé dàng bị bất hoạt bởi B-propiolactone, nhưng có kha năng chống lại phenon 0,25 - 0,5% (Spickler, 2023). Virus bệnh dại có thể còn sống trong xác chêt đên vai ngày ở 20°C, mặc dù có thé sông sót lâu hơn khi xác chêt của nạn nhân được làm lạnh. Virus dại tồn tại ở 4°C trong nhiều tuần và -70°C trong nhiều năm.
Tuy nhiên virus rất dé bị bất hoạt khi tiếp xúc với tia cực tím và nhiệt (Greene, 2006). Xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang (immunofluorescent) hay xét nghiệm gen đi truyền, thường được áp dụng cho chân đoán bệnh đại, không phụ thuộc vào hiện diện của các hạt virus còn sống. Kháng nguyên hay nucleic acid của virus có thé phát hiện thấy ở các thời điểm virus đã bị chết (Greene, 2006). Single stranded helical RNA nucleoprotein Envelope 7 Spike G protein i 170 nm h Hình 1.
Cấu trúc Rhabdovirus (Veterian Key, 2021) Bảng 1. Phân loại giống của Lyssavirus (Greene, 2006) Phân loại của giống (genus) Lyssavirus Ching di Nhomdi Ching huyết Vi trí (của ký chủ ` ` Mô tả của các Dòng (strains, theo truyền truyền thanh tàng trữ - thứ tự ký tu) (genotype) (phylogroup) (serotype) reservoir hosts) Virus đại cổ điển — classical rabies „ ¬¬. ; oh ow Khap thé gidi, trén virus, bao gôm các bién thé đường 1 I 1 : 1 si cạn (các loài ăn thịt phô - street varieties, và các biên thé 8 có. va doi) cô định — fixed varieties Virus phan lap tir doi 6 cang Lagos: 2 II 3 Ũ sa ones Chau Phi (doi) Lagos bat virus (LBV) 1, 2, và 3 ; Chau Phi (chưa rõ 3 II 3 Mokola virus (MOKV) 1, 2, 3, va 5 ký chủ tang trữ) 4 I 4 Duvenhage virus (DUVV) 1, 2, và 3 Châu Phi (dơi) Lyssavirus ở doi Châu Âu — 5 và 6 I 5 European bat Lyssavirus (EBLV) các Châu Au (doi) chủng (types) 1 và 2 Lyssavirus ở doi Châu Uc-— , 7 I 6 - Uc (doi) Australian bat Lyssavirus (ABLV) Tam phan 5 I Aravan virus (ARAV) Kyrgyzstan (doi) ching Tam phan ¬ I KhuJand virus KHUV) Kyrgyzstan (doi) chung Tam phan Miền đông Siberia I Irkut virus (IRKV) chủng (dơi) Tạm phân TM Virus ở doi miền tây vùng Caucase — Vung núi miền tay chung West Caucasian bat virus (WCBV) vùng Caucase (doi) pr" SN, 1 Missing/Excluded ` - : S “ ` ¢ 7 © Less than 18 \ : f là ` : 18 to 112 sms” - hộ \ : @ 112 to 388 Lary / Tovoa @ 388 and above nd % Hình 1.
Số lượng ca chết hằng năm liên quan đến bệnh dại trên người tại các nước (Global Alliance for Rabies Control, 2021) 1. Kha nang gay bénh trén dong vat Virus dai có thé gây bệnh cho hau hết các động vật máu nóng, bao gồm các động vật gần người như chó mèo, doi, trâu, bò, ngựa, lợn, dê cừu. và các động vật hoang dại như chén, chồn hôi, chó sói, cáo, gấu, cầy mangu. Trong đó chó là nguồn truyền bệnh chủ yếu và nguy hiểm nhất (Mustafa và ctv, 2015).
Bệnh dại lây lan trực tiếp bằng cách thú bệnh cào cắn thú khỏe và gián tiếp qua dụng cụ nhiễm tiếp xúc vết thương, ăn phải mô bị nhiễm bệnh và một số nguyên nhân khác không rõ ràng (Hoàng Văn Năm và cs, 2012). Virus xâm nhập vào cơ thé (thường là mô co), nhân lên tại chỗ, xâm nhập vào dây thần kinh, di chuyền về trung tâm thần kinh, phân tán sang những tế bào lân cận và nhân lên trong tế bào thần kinh (hạch thần kinh, dây thần kinh, tùng thần kinh), lan toa đến dây thần kinh cảm giác (những mô càng gần thần kinh trung ương sẽ bị hư hại trước hết), xâm nhiễm tất cả các cơ quan và mô. Ngoài mô thần kinh virus còn có thể nhân lên trong biểu mô của tuyến nước bọt, da và cơ lưỡi. Virus dại có trong nước bọt khoảng 3-8 ngay trước khi con vật có triệu chứng lâm sàng đầu tiên và trong suốt thời gian bị bệnh.
Thời gian truyền virus dại ở chó, mèo đa số trong 10 ngày, có thé kéo dài đến 14 ngày, vì vậy cần theo déi chó, mèo ké từ khi bị con vật cắn (Lafon, 2005). A: Virus dai đi vào thần kinh ngoại biên, hoặc có thể nhân lên ở tế bào cơ và sau đó phát tán vào hệ thần kinh vận động; B: Hướng vào bên trong sợi trục thần kinh, phát tán vào trung tâm hệ thống thần kinh xuất hiện trong vùng ngoại vi thần kinh vận động; C: Virus nhân lên ở thần kinh tủy sống và nhanh chóng lan tỏa đến hệ thống thần kinh, gây tê liệt tế bào thần kinh vận động dưới dan dan, là nguyên nhân dẫn đến giảm thấp khả năng của thần kinh vận động; D: Virus đi vào trong não là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi hành vi. Virus lan tỏa xa ra vùng ngoại vi và than kinh sọ, tuyến nước bọt và nước bọt và những mô khác. Giai đoạn ủ bệnh tùy thuộc vào thời gian, vị trí và tình trang của vết cắn va số lượng virus đi vào.
Virus có thé không thé phát hiện ở vùng mô sau khi cắn, và nó không đi vào máu.