Chương I đã khái quát mục tiêu nghiên cứu, đó là những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc uống rượu bia, và nếu như có nhận thức đầy đủ những rủi ro có thể xảy khi tiêu dùng rượu bia thì thái độ, nhận thức, hành vi và mức độ tiêu dùng của người tiêu dùng sẽ như thế nào ? Nội dung Chương II trình bày các lý thuyết liên quan đến nhận thức, thái độ, hành vi, tập quán xã hội, trách nhiệm xã hội và cộng đồng làm cơ sở đánh giá, giải thích việc hình thành nên nhận thức, thái độ, hành vi của người tiêu dùng. Đồng thời trình bày các khái niệm có liên quan đến lạm dụng rượu bia, các nghiên cứu trước đây có liên quan và các chính sách, biện pháp của chính quyền địa phương trong việc thực hiện Chính sách quốc gia về phòng chống lạm dụng đồ uống có cồn.2 Khái niệm nhận thức, thái độ và hành vi: 2.1 Nhận thức Có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về nhận thức, như: -Nhận thức: (1) danh từ: nhận thức là quá trình và kết quả phản ánh, tái hiện hiện thực vào trong tư duy, quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả của quá trình đó. (2) động từ: nhận ra và biết được (Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông, Viện ngôn ngữ học, NXB Tp. -Nhận thức: Nhờ hoạt động nhận thức mà con người phản ánh hiện thực xung quanh ta và các hiện thực của bản thân ta, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ tình cảm và hành động.
Trong việc nhận thức thế giới, con người có thể đạt tới mức độ nhận thức khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp (Sách tâm lý đại cương, Khoa giáo dục học, Trường Đại học Khoa học, Xã hội và Nhân văn).2 Thái độ: 10 Thái độ (danh từ): (1) Là tổng thể chung những biểu hiện ra bên ngoài (bằng nét mặt, cử chỉ, hành động, lời nói) của ý nghĩ, tình cảm của con người đối với người hoặc việc. (2) Là cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình (Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông, Viện ngôn ngữ học, NXB Tp.3 Hành vi: Hành vi (danh từ) là toàn bộ nói chung những phản ứng, cách ứng xử, biểu hiện ra ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định.3 Lạm dụng rượu bia: Lạm dụng rượu bia là một vấn đề phức tạp gồm 3 mức độ: uống rượu bia có nguy cơ gây hại, uống quá độ và nghiện rượu. Theo cảnh báo và khái niệm của Tổ chức y tế thế giới (WHO) nguy cơ gây hại do uống rượu bia là “uống rượu thường xuyên, có nguy cơ dẫn đến hậu quả tai hại” về mặt thể chất, tâm thần, hoặc xã hội. Điều này bao hàm việc uống rượu quá mức quy định của cơ quan y tế có thẩm quyền và pháp luật.
Uống rượu quá độ, còn gọi là uống quá chén, ám chỉ thói quen uống rượu đã gây tác hại về mặt thể chất và tâm thần nhưng chưa dẫn đến việc nghiện rượu. Nghiện rượu được miêu tả là “không thể kiềm chế bản thân để tránh uống rượu”. Người nghiện rượu thèm rượu, tiếp tục uống bất chấp những tác hại do rượu gây ra và lên cơ vật vã khi thiếu rượu.1 Lạm dụng rượu bia theo quan điểm WHO: Lạm dụng rượu bia là việc sử dụng rượu bia với mức độ không thích hợp dẫn đến sự biến đổi về chức năng hoặc xuất hiện một dấu hiệu lâm sàng theo DSM-IV (loạn thần dạng phân liệt hay rối loạn dạng phân liệt). Mức sử dụng có thể gây nên tình trạng lạm dụng rượu bia theo khuyến cáo của WHO là: 11 + Nữ sử dụng quá 1 đơn vị rượu/ngày, 7 đơn vị rượu/tuần ( 30 đơn vị rượu/tháng) + Nam sử dụng quá 2 đơn vị rượu/ngày, 14 đơn vị rượu/tuần ( 60 đơn vị rượu/tháng) + Lớn hơn 65 tuổi sử dụng quá 1 đơn vị rượu/ngày, 7 đơn vị rượu/tuần ( 30 đơn vị rượu/tháng) Trong đó: đơn vị rượu là đơn vị đo lường dùng để quy đổi rượu, bia và đồ uống có cồn khác với nồng độ khác nhau, tương đương với 10 grams etanol nguyên chất chứa trong dịch uống (khoảng 2/3 chai bia 500ml hoặc 01 lon bia 330ml 5%, 1 cốc bia hơi 330ml, 100ml rượu vang 13,5%, 1 chén 30ml rượu mạnh 40% - 43%) (Trần Thị Trang, 2014).2 Lạm dụng rượu bia theo quan điểm Việt Nam: Theo Khoản 2, Điều 2 Quyết định 244/QĐ-TTg ngày 12/2/2014 Quyết định về chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn đến năm 2020 thì lạm dụng rượu bia và đồ uống có cồn là việc sử dụng rượu, bia và đồ uống có cồn khác với mức độ, liều lượng, đối tượng không thích hợp dẫn đến sự biến đổi về chức năng của cơ thể hoặc sự xuất hiện dấu hiệu về lâm sàng ảnh hưởng có hại đến sức khoẻ người sử dụng: + Trẻ em, phụ nữ mang thai hoặc đang nuôi con bằng sữa mẹ sử dụng rượu, bia và đồ uống có cồn khác; + Người từ 60 tuổi trở lên uống hơn 14 đơn vị rượu/tuần, hơn 2 đơn vị rượu/ngày, hơn ½ đơn vị rượu/giờ (tức 60 đơn vị rượu/tháng); + Người dưới 60 tuổi uống trên 21 đơn vị rượu/tuần, hơn 3 đơn vị rượu/ngày, hơn 1 đơn vị rượu/giờ (tức 90 đơn vị rượu/tháng) + Hoặc sử dụng rượu, bia và đồ uống có cồn khác trong trường hợp pháp luật nghiêm cấm.4 Tác hại của lạm dụng rượu bia: 2.1 Tác hại đối với sức khoẻ thể chất 12 2.1 Tác hại trên gan: Rượu gây nhiều tác hại trên gan.
Khoảng ¼ số bệnh nhân nằm tại khoa tiêu hóa là xơ gan. Rượu là thủ phạm gây xơ gan đứng hàng thứ 2 chỉ sau vi rút viêm gan B…Các bệnh lý gan do rượu thường gặp là: - Gan nhiễm mỡ do rượu: Là tình trạng mỡ tích tụ trong các tế bào gan do rượu gây ra làm suy giảm chức năng gan. Rượu gây độc trực tiếp cho gan, khi uống vào được chuyển hóa ngay tại gan thành những hạt mỡ choán chỗ tế bào gan bình thường gọi là gan nhiễm mỡ. - Viêm gan do rượu: Là tình trạngbệnh lý tổn thương lan tỏa ở gan do rượu gây nên biểu hiện bởi tình trạng thâm nhiễm tế bào viêm ở gan và hoại tử tế bào gan.
- Xơ gan do rượu:Là giai đoạn cuối của quá trình viêm gan mạn do rượu, trong đó mô gan được thay thế dần bằng các mô xơ làm thay đổi cấu trúc bình thường của gan.Một nghiên cứu cho thấy nếu mỗi ngày uống 1 xị rượu hoặc ½ lít bia thì trong vòng 10 năm có thể sẽ dẫn đến xơ gan. - Ung thư gan:Là một loại ung thư phát triển từ các tế bào gan, thường phát triển trên nền gan xơ.2 Tác hại trên dạ dày: Có thể gây viêm -và loát dạ dày như: Rượu có thể gây ra sự khuéch tán ngược acid Clohydricqua niêm mạc thực quản và dạ dày; Viêm dạ dày cấpgây ra bởi chè chén lu bù, các vết xước mòn niêm mạc và chảy máu; Loát dạ dày và tá tràng thường kết hợp với sử dụng quá mức rượu; Nghiện rượu gây ra các biến chứng như thủng dạ dày và chảy máu dạ dày.3 Tác hại trên tim mạch, huyết áp: Rượu gây ra thiếu B1 làm cho người bệnh cảm thấy mệt mỏi, phù, tím tái, giảm khả năng gắng sức… dần dần dẫn tới suy tim. Nhiễm độc rượu dẫn tới viêm cơ tim cấp, gây nguy cơ tử vong cao. Nghiện rượu là một nguyên nhân quan trọng gây ra bệnh cơ tim giãn thứ phát không do thiếu máu cục bộ cơ tim và chiếm tới 1/3 các bệnh nhân bị bệnh giãn cơ tim.
Rượu còn gây ra rối loạn nhịp nhĩ hay nhịp thất, nhất là nhịp nhanh kịch phát ở những người bình 13 thường.Uống rượu liên quan đến những biến chứng mạch máu não, nhất là trong vòng 24h sau khi uống rượu.4 Đối với một số bệnh lí nội tiết: Rượu làm suy giảm chức năng của các hormon của não bộ, đây là một trong những nguyên nhân gián tiếp ảnh hưởng đến chức năng các cơ quan đích của hormon não bộ trong cơ thể …Đối với người bị bệnh đái tháo đường mắc phải uống rượu tuy uống ít nhưng tổng năng lượng thường quá nhiều, khó khống chế được lượng đường. Ngoài ra rượu còn là nguyên nhân làm cho phương pháp điều trị ăn uống thực hiện không tốt. Đây là nguyên nhân làm tăng đường máu.5 Trên não bộ: Nghiện rượu mãn tính là một trong hai nguyên nhân dẫn đầu gây ra tổn thương não. Nó làm cho các tế bào não chết dần đi, não bộ teo lại.
Làm suy giảm trí nhớ, ảnh hưởng đến thính giác, khứu giác, thị giác, 2.6 Tác dụng trên khả năng tình dục và sức khỏe sinh sản. Đối với nam giới: Nhiều nghiên cứu khác đã cho thấy rằng lượng testosterone ở những người uống bia, rượu thường xuyên cũng như những người uống bia, rượu trong một chừng mực nhất định luôn bị giảm.Nghiện rượu còn làm giảm lượng tinh trùng. Độc tố được tìm thấy trong rượu, bia có thể tiêu diệt các tế bào tạo ra tinh trùng trong tinh hoàn, ảnh hưởng đến kích thước tinh hoàn và làm tăng sự bất thường ở tinh trùng có thể dẫn đến quái thai hoặc vô sinh. Đối với nữ giới: Nghiện rượu sẽ làm suy yếu vùng hạ đồi - tuyến yên, buồng trứng dẫn đến trứng không rụng nữa, làm bất thường phát triển nội mạc tử cung, rối loạn kinh nguyệt (ít kinh).
Làm ảnh hưởng khả năng sinh sản của phụ nữ do thay đổi mức độ estrogen và progesterone, gây nguy cơ sinh non cao và là một nguyên nhân gây vô sinh. Tác hại của rượu đối với thai nhi: Hội chứng thai nhi rượu (Fetal Alcohol Syndrome) là một phần của hội chứng rượu bào thai (do khi mang thai mẹ uống rượu) gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng về thể chất, tâm thần và hành vi của đứa trẻ sau khi ra đời. Dưới đây là những ảnh hưởng của hội chứng nguy hiểm này: 14 - Làm chậm quá trình phát triển của thai nhi, những đứa trẻ loại này thường thấp hơn người khác. - Một trong những hậu quả đáng chú ý của hội chứng thai nhi rượu là thai nhi dễ bị tổn thương sau sinh như: Trẻ dễ bị nhiễm trùng sau sinh, các vấn đề về tiêu hóa… - Những biến chứng bất thường như: giảm khả năng phát âm, mắt trẻ có thể nhỏ lại, mũi ngắn, bất thường tai, miệng răng….
- Rượu gây tác động xấu đến hệ thần kinh trung ương gây các dị tật hoặc gây tổn thương não vĩnh viễn hậu quả là chậm phát triển tâm thần hoặc sa sút trí tuệ sau này.