lời mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh tại ngân hàng thƣơng mại. 4 Chƣơng 2: Phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh tại các Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Việt Nam. Chƣơng 3: Giải pháp gia tăng nhân tố tích cực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại các Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Việt Nam. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu.
Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về hiệu quả hoạt động kinh doanh, các chỉ tiêu đo lƣờng hiệu quả hoạt động kinh doanh tại các ngân hàng thƣơng mại. Trên cở sở đó đo lƣờng đƣợc hiệu quả hoạt động kinh doanh tại các Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Việt Nam. Đồng thời lựa chọn mô hình phù hợp để phân tích ảnh hƣởng của các nhân tố đến hiệu quả hoạt động kinh doanh tại các Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Việt Nam. Kết quả nghiên cứu giúp các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu về lĩnh vực ngân hàng có cái nhìn toàn diện hơn về hiệu quả hoạt động kinh doanh tại các NHTMCP Việt Nam.
Bên cạnh đó nhận định đƣợc thực trạng hoạt động cũng nhƣ hiệu quả hoạt động kinh doanh tại ngân hàng, xác định đƣợc đâu là những nhân tố then chốt tác động lên hiệu quả, từ đó xây dựng những giải pháp phù hợp gia tăng các nhân tố tích cực, hạn chế các nhân tố tiêu cực ảnh hƣởng đến hiệu quả hƣớng đến mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại các NHTMCP Việt Nam. 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Các hoạt động kinh doanh tại ngân hàng thƣơng mại. Hoạt động huy động vốn.
Huy động vốn là hoạt động tạo nên nguồn vốn của ngân hàng qua việc ngân hàng nhận ký thác và quản lý các khoản tiền từ khách hàng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi đáp ứng nhu cầu vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trong tổng nguồn vốn hoạt động, các ngân hàng chủ yếu dựa vào nguồn vốn huy động từ các thành phần trong nền kinh tế. Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn và có vai trò đặc biệt quan trọng quyết định hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nếu khả năng huy động vốn tốt, nguồn vốn tăng trƣởng thì ngân hàng sẽ mở rộng hoạt động cho vay, phát triển kinh doanh.
Nguồn vốn huy động càng rẻ thì hiệu quả hoạt động kinh doanh càng cao. Để đảm bảo nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh, các NHTM có thể thực hiện các hoạt động huy động vốn từ: - Tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi giao dịch: các ngân hàng có thể giải quyết nguồn vốn đầu vào cho nhu cầu tín dụng của khách hàng từ việc huy động tiền gửi, trong đó tiền gửi tiết kiệm của dân cƣ chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng vốn huy động của ngân hàng. Ngoài ra còn có các khoản tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Bên cạnh còn có các khoản tiền gửi không kỳ hạn bao gồm tiền gửi và tiền gửi thanh toán.
Các khoản tiền gửi không kỳ hạn này có chi phí huy động thấp, tuy nhiên lại biến động mạnh, tính chất vận động phức tạp, nhiều rủi ro, khách hàng tham gia loại tiền gửi này chủ yếu là sử dụng dịch vụ thanh toán. - Phát hành giấy tờ có giá: thông qua thị trƣờng tài chính, hiện các NHTM có thể huy động vốn bằng cách phát hành các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu, và các giấy tờ có giá khác. Hoạt động này giúp các ngân hàng có thể đa dạng hóa 6 hình thức huy động, đáp ứng các nhu cầu nắm giữ tài sản khác nhau của khách hàng, đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trƣờng. - Vốn đi vay: các NHTM có thể vay nợ từ các ngân hàng khác nhƣ ngân hàng Nhà nƣớc thông qua hình thức chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá, các hợp đồng tín dụng đã cấp cho khách hàng hoặc vay từ các tổ chức tài chính khác trên thị trƣờng tiền tệ nhằm đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn.
Tuy nhiên, vốn vay từ các NHTM khác trên thị trƣờng liên ngân hàng sẽ có chi phí cao hơn, vì vậy các ngân hàng chỉ nên sử dụng nguồn vốn vay này trong trƣờng hợp ngân hàng thiếu vốn khả dụng trong thời gian ngắn. Hoạt động tín dụng. Đây là hoạt động cơ bản, truyền thống và đóng vai trò vô cùng quan trọng không chỉ đối với nền kinh tế mà còn trong hoạt động tạo ra thu nhập cho ngân hàng. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thể hiện quan hệ tín dụng phát sinh giữa ngân hàng với khách hàng, trong đó ngân hàng là ngƣời cấp tín dụng cho khách hàng dƣới hình thức bằng tiền mặt hoặc tài sản trong thời gian đã thỏa thuận, với cam kết là khách hàng phải hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn.
Hoạt động tín dụng bao gồm các hình thức nhƣ cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, bao thanh toán, cho thuê tài chính, cho vay thấu chi,… - Cho vay: NHTM đƣợc cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dƣới các hình thức nhƣ cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống; cho vay trung, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tƣ phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. - Bảo lãnh: NHTM đƣợc bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và khả năng tài chính của ngân hàng. Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh đối với một ngân hàng không đƣợc vƣợt quá tỷ lệ so với vốn tự có của ngân hàng. - Chiết khấu: NHTM đƣợc chiết khấu thƣơng phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thƣơng phiếu và 7 các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác.
- Bao thanh toán: NHTM triển khai thực hiện bao thanh toán nhƣ là một hình thức cấp tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp nhƣ: bao thanh toán truy đòi, bao thanh toán miễn truy đòi, bao thanh toán ứng trƣớc hay bao thanh toán chiết khấu, bao thanh toán khi đáo hạn trong phạm vi buôn bán nội địa và quốc tế. - Cho thuê tài chính: NHTM đƣợc thực hiện cho thuê tài chính nhƣng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng. - Cho vay thấu chi: NHTM thực hiện cho vay thấu chi dành cho các khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng. Khách hàng sử dụng dịch vụ này sẽ đƣợc cấp một hạn mức thấu chi khi tạm thời thiếu hụt trong thanh toán.
Khách hàng không phải thế chấp hay tín chấp. Trong các hình thức của hoạt động tín dụng thì hoạt động cho vay là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các sản phẩm tín dụng, đồng thời cũng là hoạt động mang lại nguồn thu lớn cho ngân hàng. Mặc dù vậy, hoạt động tín dụng luôn chứa đựng nhiều rủi ro nhƣ rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro chính trị, và rủi ro đạo đức đã gây ảnh hƣởng lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Hoạt động đầu tƣ.
Để đa dạng hóa việc sử dụng nguồn vốn, phân tán rủi ro trong hoạt động, tăng thu nhập và hỗ trợ thanh khoản khi cần thiết, ngoài hoạt động tín dụng, các NHTM còn thực hiện các hoạt động đầu tƣ nhƣ đầu tƣ trực tiếp bằng cách góp vốn vào các doanh nghiệp, các công ty tài chính, hay đầu tƣ gián tiếp vào thị trƣờng chứng khoán thông qua mua bán chứng khoán do Chính phủ, công ty phát hành. Hiệu quả hoạt động đầu tƣ của NHTM thể hiện ở tỷ lệ sinh lời của các khoản đầu tƣ, sự tăng giá cả các chứng khoán và sự an toàn của các chứng khoán. Hoạt động đầu tƣ và kinh doanh chứng khoán mang lại cho ngân hàng một khoản lợi nhuận tƣơng đối lớn song đó cũng vẫn là một hoạt động nhiều rủi ro. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ.
Kinh doanh ngoại tệ là việc NHTM dùng đồng tiền nƣớc này để mua bán 8 đồng tiền nƣớc khác tại cùng một địa điểm hoặc giữa các địa điểm khác nhau trong cùng một khoản thời gian nhằm mang lại thu nhập dƣới hình thức chênh lệch giá. Kinh doanh ngoại tệ ngày càng có vị trí quan trọng trong hoạt động của NHTM. Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ bao gồm: nghiệp vụ ngoại hối giao ngay, nghiệp vụ ngoại hối giao sau, nghiệp vụ chênh lệch tỷ giá, nghiệp vụ ngoại hối kỳ hạn, nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ, nghiệp vụ ngoại hối theo quyền chọn. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh ngoại tệ chứa đựng khá nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tỷ giá.
Vì vậy, việc đo lƣờng, tính toán để đƣa ra những giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ là rất quan trọng. Hoạt động kinh doanh dịch vụ khác. Cùng với sự phát triển kinh tế, các hoạt động cung cấp dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc đa dạng hóa các hoạt động của ngân hàng, đồng thời cũng mang lại cho ngân hàng những khoản thu nhập không nhỏ. Các hoạt động dịch vụ bao gồm dịch vụ thanh toán, ngân quỹ, bảo lãnh, ủy thác, đại lý,… Đây cũng là những hoạt động góp phần gia tăng nguồn vốn huy động cho ngân hàng.
Ngoài ra, trƣớc sự bùng nổ của công nghệ thông tin, các ngân hàng đã nhanh chóng ứng dụng những tiến bộ của khoa học công nghệ vào việc cung cấp và phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại nhƣ dịch vụ thẻ, dịch vụ home banking, internet banking, phonebanking, mobile banking và các dịch vụ ngân hàng quốc tế khác. Hiệu quả hoạt động kinh doanh tại ngân hàng thƣơng mại. Ngân hàng thƣơng mại đƣợc xem là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ. Khi nghiên cứu về hiệu quả hoạt động kinh doanh thì hiện nay có rất nhiều quan điểm về hiệu quả: Theo European Central Bank: hiệu quả là khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững.
Lợi nhuận thu đƣợc đầu tiên đƣợc dùng để dự phòng cho các khoản lỗ bất ngờ và tăng cƣờng vị thế về vốn, cải thiện lợi nhuận thu đƣợc trong tƣơng lai thông qua đầu tƣ và các khoản lợi nhuận giữ lại.