CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, trong đó trình bày về tính cấp thiết của đề tài khi mà tốc độ toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại nhanh chóng phát triển và bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, cạnh tranh khốc liệt, điều đó đòi hỏi ngân hàng Sài Gòn Thương Tín phải thay đổi cho phù hợp với tình hình mới; xác định được chính xác các nhân tố có tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của chính ngân hàng, vì tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu đối với ngân hàng thương mại. Hơn nữa, tác giả đã trình bày mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG TMCP 2. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.
Khái niệm ngân hàng thương mại Luật các tổ chức tín dụng ban hành ngày 16/06/2010 có định nghĩa ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định Luật này nhằm mục tiêu sinh lợi. Ngân hàng thương mại thực hiện kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau để tạo nguồn thu, đồng thời kiểm soát chặt chẽ các khoản chi phí, rủi ro phát sinh và quản lý thận trọng danh mục đầu tư nhằm đạt được tỷ suất sinh lợi như kỳ vọng của cổ đông và các nhà quản trị mà vẫn đảm bảo khả năng thanh khoản trước các cú sốc kinh tế, sự bất ổn của thị trường ngành ngân hàng trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh. Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam bao gồm: Ngân hàng thương mại Nhà nước (loại hình tổ chức tín dụng Nhà nước): Là ngân hàng thương mại được thành lập bằng 100% vốn ngân sách.
Ngân hàng thương mại cổ phần (thuộc loại hình tổ chức tín dụng cổ phần của Nhà nước và nhân dân): Là ngân hàng thương mại được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó cá nhân hay pháp nhân chỉ được sở hữu một số cổ phần nhất định theo quy định của pháp luật. Ngân hàng cổ phần được phân loại thành ngân hàng cổ phần đô thị và ngân hàng cổ phần nông thôn. Ngân hàng 100% vốn nước ngoài: Là ngân hàng có 100% vốn nước ngoài. Ngân hàng liên doanh: Là ngân hàng thương mại được thành lập bằng vốn liên doanh giữa một bên là ngân hàng thương mại Việt Nam và một bên là ngân hàng nước ngoài có trụ sở tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật Việt Nam.
7 Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Là ngân hàng được thành lập theo pháp luật của nước ngoài, được phép mở chi nhánh tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật Việt Nam. Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Hiệu quả hoạt động của ngân hàng là thước đo đo lường thành công của ngân hàng trong việc sử dụng nguồn tài trợ để tạo ra lãi ròng, đồng thời cũng là thước đo về khả năng thanh toán nợ của ngân hàng. Hiệu quả hoạt động thể hiện mức độ hiệu quả trong hoạt động kinh doanh cũng như triển vọng phát triển của ngân hàng trong tương lai. Khi phân tích hiệu quả hoạt động của ngân hàng cần kết hợp xem xét đến các mục tiêu chiến lược khác như: kế hoạch mở rộng mạng lưới, gia tăng thị phần, đảm bảo khả năng thanh khoản, mức độ chấp nhận rủi ro, cơ cấu tài sản,…Để đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng, cần xem xét mức lãi ròng đạt được sau một kỳ hoạt động trong mối tương quan với nguồn vốn chủ sở hữu, tổng tài sản và khả năng bù đắp chi phí cho những thất thoát xảy ra.
Hai chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động thường được các chuyên gia kinh tế trên thế giới sử dụng là Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE). Ngoài ra, vì hoạt động đặc trưng của ngân hàng là kinh doanh tiền tệ và thị giá cổ phiếu ngân hàng cũng chịu sự tác động của các cú sốc kinh tế hay các cơn khủng hoảng ngành ngân hàng, một vài chỉ tiêu đặc thù cũng được sử dụng để đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng dù không phổ biến là Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), chênh lệch lãi suất bình quân,… 2. CÁC THƯỚC ĐO ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG 2. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản Tỷ suất sinh lợi trên tổng trên tổng tài sản là thước đo dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động của tài sản ngân hàng, cụ thể là đo lường mức sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng.
Nghĩa là, bình quân cứ một đồng tài sản thì ngân hàng có thể tạo ra bao nhiêu đồng lãi ròng thông qua hoạt động kinh doanh. Hiệu quả hoạt động theo tài sản được xác định bằng công thức: Lãi ròng ROA(%) Tổng tài sản 8 ROA là thước đo thích hợp cho hiệu quả hoạt động đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, thể hiện năng lực chuyển đổi từ tài sản thành lãi ròng của ngân hàng và được dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động mà không quan tâm đến cấu trúc tài chính của ngân hàng. Nghiên cứu của Holden và El-Banany (2004) với các ngân hàng ở Vương quốc Anh, Syafri (2012) với các ngân hàng ở Indonesia hay Abuzar (2013) với các ngân hàng Hồi giáo ở Sudan đã sử dụng hệ số ROA để đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ số ROA chịu tác động bởi nhiều nhân tố như: quy mô ngân hàng, quy mô tiền gửi khách hàng, khả năng thanh khoản, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, mức độ tăng trưởng kinh tế, mức tăng cung tiền và tỷ lệ lạm phát.
Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu là chỉ số quan trọng nhất đối với các cổ đông của ngân hàng, dùng để đo lường hiệu quả hoạt động tính trên mỗi đồng vốn mà chủ sở hữu bỏ ra. Chỉ tiêu ROE được xác định bằng lãi ròng chia cho tổng vốn chủ sở hữu (bao gồm vốn cổ phần thường, cổ phần ưu đãi, chênh lệch đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá, các quỹ dự trữ và lợi nhuận giữ lại) qua công thức sau: Lãi ròng ROE(%) Tổng vốn chủ sở hữu Bên cạnh việc dùng để đo lường hiệu quả hoạt động theo vốn chủ sở hữu, thông số ROE còn thể hiện sức mạnh tài chính của một ngân hàng, cụ thể: - Tỷ lệ ROE thấp sẽ giảm sức hấp dẫn của cổ phiếu ngân hàng trước các nhà đầu tư, dẫn đến khó thu hút nguồn vốn mới cho việc phát triển kinh doanh và mở rộng thị trường. - Tỷ lệ ROE thấp làm giảm khả năng tăng vốn chủ sở hữu cho ngân hàng qua việc tích lũy lợi nhuận giữ lại. Từ đó hạn chế khả năng tăng trưởng tài sản gắn liền tăng vốn chủ sở hữu Ngân hàng theo quy định của pháp luật.
- Tỷ lệ ROE càng cao chứng tỏ ngân hàng đã sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư của cổ đông, cân đối hài hòa cấu trúc tài chính giữa nợ và vốn chủ sở hữu trong phát triển kinh doanh và mở rộng quy mô. Do vậy, cổ phiếu của Ngân hàng có tỷ lệ ROE càng cao thì càng hấp dẫn và là mục tiêu chủ yếu cho các nhà đầu tư chiến lược. 9 Mối tương quan giữa tỷ suất sinh lợi trên tài sản và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng: Tổng tài sản ROE = ROA * Tổng vốn chủ sở hữu Từ mối quan hệ giữa ROE và ROA có thể thấy rằng chỉ số ROE rất nhạy cảm với phương thức tài trợ tài sản (sử dụng nhiều vốn chủ sở hữu hơn hay sử dụng nhiều nợ hơn). Do đó, các cổ đông cần sáng suốt khi quyết định đầu tư dựa vào chỉ số ROE của ngân hàng vì các nhà quản trị ngân hàng có thể dễ dàng cải thiện chỉ số ROE qua việc gia tăng tỷ lệ sử dụng nợ (bao gồm tiền gửi của khách hàng) so với vốn chủ sở hữu trong quá trình tài trợ tài sản.
Nghiên cứu của Zeitun (2012) tại các nước khu vực vùng Vịnh hay Abuzar (2013) sử dụng tỷ lệ ROE để đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng và phát hiện tỷ lệ ROE chịu tác động từ những nhân tố như quy mô tiền gửi khách hàng, nguồn vốn chủ sở hữu, tổng tài sản của ngân hàng, hiệu quả hoạt động của ngân hàng thông qua chỉ tiêu tỷ lệ chi phí trên thu nhập hoạt động,…Tuy nhiên, các mô hình nghiên cứu sử dụng ROE làm biến phụ thuộc có mức độ giải thích của các biến độc lập thấp hơn so với mô hình có ROA là biến phụ thuộc. Có thể giải thích điều này là do các ngân hàng tận dụng triệt để đòn bẩy tài chính trong việc huy động vốn trong việc huy động vốn phục vụ hoạt động kinh doanh tiền tệ nhằm sinh lợi và tài sản ngân hàng được hình thành chủ yếu từ nguồn vốn chủ sở hữu và vốn huy động từ khách hàng; do đó, khi cơ cấu nguồn vốn huy động trong tổng tài sản càng lớn đồng nghĩa tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản càng nhỏ, dẫn đến chỉ số ROE sẽ được tăng cường dù rằng ngân hàng có thể gánh chịu rủi ro thanh khoản tiềm ẩn trong tương lai. Tóm lại, chỉ tiêu ROE chỉ là một thông số tham khảo trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Hiệu quả hoạt động của ngân hàng chịu tác động của nhiều nhân tố, tuy nhiên do bài nghiên cứu này chỉ tập trung vào các nhân tố như: cấu trúc tài sản, chất lượng tài sản, nguồn vốn, cấu trúc tài chính, hiệu quả hoạt động, quy mô ngân hàng, mức độ tập 10 trung ngành, mức độ đa dạng hóa thu nhập, tăng trưởng kinh tế, lạm phát và lãi suất nên trong phần trình bày này tác giả sẽ tập trung vào các nhân tố vừa nêu.