phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 04 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về cấu trúc tài chính và các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc tài chính của doanh nghiệp Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm sự ảnh hƣởng của các nhân tố đến cấu trúc tài chính của các công ty ngành bất động sản niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam Chƣơng 4: Một số gợi ý chính sách 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Tổng quan tài liệu Tham khảo Bài giảng Quản trị tài chính của TS. Đoàn Gia Dũng [4], Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh – Phần II của GS.TS Trƣơng Bá Thanh và GS.TS Trần Đình Khôi Nguyên [8], Bài giảng kinh tế lƣợng của PGS.TS Trƣơng Bá Thanh [9], đề tài đã trích dẫn và tham khảo phần lý thuyết về CTTC và các nhân tố ảnh hƣởng tới CTTC của DN, làm cơ sở, nền tảng cho nghiên cứu thực nghiệm của đề tài. 5 Thông qua các trang web sở giao dịch chứng khoán TP.
Hồ Chí Minh và sở giao dịch chứng khoán Hà Nội, các trang web diễn đàn chứng khoán, và các trang web của thị trƣờng chứng bất động sản để thu thập các thông tin về tình hình hoạt động và phát triển của thị trƣờng bất động sản, thu thập các số liệu liên quan đến ngành bất động sản của Việt Nam,. để phục vụ cho quá trình nghiên cứu. Trên thế giới cũng nhƣ tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng tới cấu trúc tài chính của công ty, các tác giả đã dùng nhiều phƣơng pháp khác nhau, nghiên cứu thực nghiệm ở những công ty thuộc nhiều ngành nghề khác nhau trong những điều kiện kinh tế xã hội ở các nƣớc. Tuy nhiên, bên cạnh những khác biệt trong kết luận cuối cùng, các tác giả cũng đã có những kết luận giống nhau về một số nhân tố làm ảnh hƣởng tới cấu trúc tài chính của doanh nghiệp.
Một trong những nghiên cứu đó là: - Bevan và Danbolt (2002) phân tích cấu trúc vốn của 822 công ty thuộc Vƣơng quốc Anh [13]. Các tác giả đã chỉ ra rằng cấu trúc tài chính (đo lƣờng bằng tỷ lệ nợ trên tổng tài sản), tƣơng quan nghịch với lợi nhuận và mức độ của cơ hội tăng trƣởng của công ty. - Antoniou và các cộng sự (2002) nghiên cứu những yếu tố ảnh hƣởng đến CTTC của các tập đoàn ở các nƣớc Châu Âu trên cơ sở số liệu điều tra của những công ty Pháp, Đức và Anh [14]. Các tác giả đã chỉ ra rằng cấu trúc tài chính có mối tƣơng quan thuận với quy mô công ty nhƣng lại có mối tƣơng quan nghịch với chỉ tiêu giá trị thị trƣờng so với giá trị sổ sách, với cấu trúc kỳ hạn của lãi suất và giá cổ phiếu trên thị trƣờng.
- Huang và Song (2002) nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc tài chính của các công ty trên cơ sở dữ liệu thị trƣờng và dữ liệu kế toán của hơn 1000 công ty Trung Quốc đƣợc niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán [15]. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng tỉ lệ nợ trên tổng tài sản của công ty có tƣơng quan thuận với quy mô công ty, lá chắn thuế, tài sản cố định và có 6 tƣơng quan tỷ lệ nghịch với lợi nhuận và ngành nghề kinh doanh của các công ty, CTTC tỷ lệ nghịch với hiệu quả kinh doanh - Yu Wen và các cộng sự (2002) nghiên cứu mối quan hệ giữa một vài đặc trƣng của ban quản trị công ty và cấu trúc tài chính của các công ty niêm yết ở Trung Quốc [29]. Nghiên cứu thực nghiệm này đƣợc tham khảo về phƣơng pháp xử lý số liệu là chủ yếu. Ở Việt Nam, Tiến sĩ Đoàn Ngọc Phi Anh (2010) nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng tới CTTC và hiệu quả tài chính trong doanh nghiệp [1].
Tác giả kết luận các nhân tố hiệu quả kinh doanh, rủi ro kinh doanh và cấu trúc tài sản tác động tỷ lệ nghịch đến CTTC, trong khi quy mô của doanh nghiệp có tác động tỷ lệ thuận đến CTTC. - Trƣơng Đông Lộc, Võ Kiều Trang (2008), nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến cấu trúc vốn của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam [6], kết quả phân tích hồi quy cho thấy cấu trúc vốn của các công ty niêm yết có tƣơng quan thuận với quy mô công ty, ngành nghề chính của công ty, tốc độ tăng trƣởng của doanh thu và tƣơng quan nghịch với tình trạng lợi nhuận của công ty. - Nguyễn Thị Thúy Hằng (2013), phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc tài chính của các công ty may tại thành phố Đà Nẵng, kết quả phân tích hồi quy cho thấy cấu trúc tài chính của các công ty may tại Đà Nẵng có tƣơng quan thuận với tổng tài sản, thời gian hoạt động của doanh nghiệp và có tƣơng quan ngịch với vốn chủ sở hữu, cấu trúc tài sản và hiệu quả hoạt động kinh doanh [5]. - Lê Thị Kim Thƣ (2012), phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc vốn của các công ty cổ phần ngành bất động sản niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh, kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc vốn của các công ty cổ phần ngành bất động sản niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh có tƣơng quan thuận với sự tăng trƣởng của doanh 7 nghiệp và có tƣơng quan ngịch với quy mô doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động và đặc điểm riêng của tài sản doanh nghiệp [11].
Những nghiên cứu trên là cơ sở cho nghiên cứu của tác giả trong đề tài này. Đặc biệt, nghiên cứu trong lĩnh vực bất động sản của tác giả Lê Thị Kim Thƣ (2012) còn giới hạn về phạm vi nghiên cứu nên kết quả của đề tài chỉ đúng với một số ít doanh nghiệp trong một vùng. Vì vậy, trong đề tài này tác giả muốn mở rộng phạm vi nghiên cứu để đi đến kết luận chính xác hơn về sự ảnh hƣởng của các nhân tố đến cấu trúc tài chính của các công ty ngành bất động sản. 8 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về cấu trúc tài chính Trong các tài liệu liên quan đến vốn các tác giả thƣờng đề cập đến cấu trúc vốn và cấu trúc tài chính. Thuật ngữ cấu trúc tài chính đƣợc sử dụng phổ biến bởi các nhà kinh tế ngƣời Pháp, còn các nhà kinh tế ngƣời Mỹ thƣờng sử dụng thuật ngữ cấu trúc vốn. Một số quan điểm gần nhƣ đồng nhất hai khái niệm này nhƣng cũng có một số quan điểm thể hiện sự không đồng nhất.
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu này, dựa trên cơ sở nguồn tài liệu thu thập đƣợc tác giả tiếp cận cấu trúc tài chính theo quan điểm của các nhà kinh tế ngƣời Pháp. Nghiên cứu của S. Theo nghiên cứu của M. Nhƣ vậy, cấu trúc tài chính doanh nghiệp đó là mối quan hệ tính bằng tỷ lệ giữa toàn bộ nợ phải trả và vốn chủ sở hữu đƣợc tính toán từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp.
Các thành phần trong cấu trúc tài chính của doanh nghiệp Thành phần cơ bản trong cấu trúc tài chính gồm hai bộ phận chủ yếu là nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu. Tính chất của hai nguồn này hoàn toàn khác nhau về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp. a) Nợ phải trả Nợ phải trả là số vốn vay, vốn chiếm dụng của các tổ chức, cá nhân mà doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán. Nợ phải trả đƣợc phân loại theo thời hạn thanh toán, gồm có: * Nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn phản ánh những khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh bao gồm: Vạy ngắn hạn ngân hàng, khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản phải nộp cho cơ quan quản lý nhà nƣớc, các khoản phải trả cho cán bộ công nhân viên, trái phiếu ngắn hạn.
Đối với các khoản ngắn hạn thƣờng thủ tục, quy trình đơn giản và dễ thực hiện, và có chi phí sử dụng vốn thƣờng thấp. Tuy nhiên thời hạn chi trả ngắn nên nếu sử dụng không hiệu quả và điều hành kế hoạch trả nợ không hợp lý có thể đƣa đến những rủi ro yếu kém về khả năng thanh toán của doanh nghiệp. * Nợ dài hạn Nợ dài hạn phản ánh những khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán vốn gốc và chi phí sử dụng vốn sau một thời hạn nhất định bao gồm các khoản vốn vay trung và dài hạn từ các tổ chức tín dụng bên ngoài nhƣ ngân hàng, công ty cho thuê tài chính, từ việc phát hành trái phiếu vay nợ của dân chúng, hay từ các quỹ hỗ trợ phát triển,. Về nguyên tắc vốn vay dài hạn có chi phí sử dụng cao hơn so với nguồn vốn ngắn hạn nhƣng doanh nghiệp ít chịu áp lực thanh toán trong ngắn hạn.
10 b) Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là số tiền do các nhà đầu tƣ, các sáng lập viên đóng góp hoặc đƣợc hình thành từ kết quả hoạt động. Đây không phải là một khoản nợ và do đó công ty không có trách nhiệm phải thanh toán. Với những loại hình công ty khác nhau, vốn chủ sở hữu đƣợc hình thành khác nhau và gồm 3 loại sau: * Vốn điều lệ: là số tiền do các thành viên sáng lập đóng góp ban đầu khi thành lập. Đây chính là vốn đƣợc ghi trong điều lệ công ty.
Riêng đối với các công ty cổ phần, nguồn vốn chủ yếu do các cổ đông đóng góp dƣới hình thức mua cổ phiếu phát hành của công ty. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị số cổ phần mà họ nắm giữ. Đây không phải là khoản nợ nên các công ty cổ phần đƣợc toàn quyền sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh mà không phải cam kết và ràng buộc về nghĩa vụ thanh toán. Chính vì đặc điểm này cho thấy mức độ tự chủ trong sản xuất kinh doanh của các công ty cổ phần phụ thuộc rất nhiều vào nguồn vốn này.
Vốn góp cổ phần càng lớn thì mức độ tự chủ về tài chính càng cao. * Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia: là phần thu nhập của công ty đƣợc cổ đông đồng ý cho công ty giữ lại để tái đầu tƣ thay vì nhận cổ tức. Đây là nguồn vốn rất chủ động và thuận tiện cho công ty.