CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Giới thiệu Tấm và vỏ làm bằng vật liệu composite là kết cấu có nhiều ưu điểm nổi trội và được sử dụng nhiều trong các lĩnh vực quan trọng như giao thông, cơ khí, xây dựng, hàng không, không gian. Trong thực tế các kết cấu tấm và vỏ composite thường mỏng nên có thể xảy ra hiện tượng mất ổn định. Do vậy, vấn đề ổn định của kết cấu tấm và vỏ composite đã và đang được nhiều nhà khoa học quan tâm giải quyết và đạt được một số kết quả đáng kể qua các bài toán bất ổn định tĩnh học, bất ổn định phi tuyến.
Vấn đề phân tích bất ổn định phi tuyến tấm composite được chú ý nhiều trong các ngành kỹ thuật hàng không và vũ trụ và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc khai thác được nhiều ưu điểm của kết cấu composite. Tuy nhiên ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu về bất ổn định phi tuyến của các kết cấu tấm composite vẫn chưa được nghiên cứu nhiều. Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài phân tích bất ổn định phi tuyến tấm composite nhằm đóng góp vào ngành khoa học composite ở Việt Nam sao cho ngày càng phát triển. Khái niệm về vật liệu composite Vật liệu composite là vật liệu tổ hợp (mức độ vĩ mô) của hai hay nhiều vật liệu thành phần khác nhau về hình dạng hoặc thành phần hóa học nhằm tạo nên một vật liệu mới có tính năng vượt trội so với từng vật liệu thành phần.
Nhiều vật liệu có nguồn gốc tự nhiên là composite. Ví dụ gỗ là một composite gồm những sợi cellulose trong nền liên kết là lignin, hoặc xương bền và nhẹ được hình thành do sự kết hợp của các tinh thể apatite (một hợp chất của canxi) và những sợi protein collagen. Ở Ấn Độ, Hy Lạp và các nước khác, rơm hoặc trấu được trộn với đất sét để làm nhà cách đây hàng trăm năm là loại composite sợi ngắn. Sự tổ hợp hai hay nhiều vật liệu khác nhau trong composite nhằm tạo nên một sản phẩm với các tính chất tối ưu, bao gồm tính chất cơ học, tính chất hóa học và tính chất chất vật lý như tính chất nhiệt (độ dẫn nhiệt, hệ số giãn nở nhiệt, nhiệt dung riêng, nhiệt độ nóng chảy, nhiệt độ chảy mềm), tính chất điện (độ dẫn điện, tổn thất điện môi…), tính chất quang học, tính cách âm… Luan van 2 Từ những năm 1960, xuất hiện nhu cầu ngày càng tăng về các vật liệu yêu cầu cứng và nhẹ hơn.
Tuy nhiên, không có một vật liệu đơn nào (monolithic material) có thể đáp ứng được yêu cầu đó. Xuất phát từ nhu cầu đó ý tưởng chế tạo vật liệu kết hợp từ một số vật liệu khác nhau ra đời và tạo nên một loại vật liệu mới đó là vật liệu tổ hợp hay còn gọi là vật liệu composite. Vật liệu composite được xem là vật liệu cấu tạo bởi hai hay nhiều thành phần gồm một hay nhiều loại vật liệu gia cường (gián đoạn) phân bố trong thành phần vật liệu nền, liên tục. Vật liệu composite phổ biến gồm hai thành phần chính: Vật liệu gia cường (reinforcing material) và vật liệu nền (matrix) Hình 1.
1 Mô hình vật liệu composite Vật liệu nền đóng vai trò liên kết các vật liệu gia cường rời rạc tạo nên một sản phẩm liên tục. Dưới tác dụng ngoại lực, vật liệu gia cường là thành phần chính chịu tải trọng vì nó thường có tính chất cơ lý cao hơn vật liệu nền. Ngược lại, vật liệu nền thường có độ bền, độ cứng thấp hơn và dẻo dai hơn vật liệu gia cường. Dưới tác dụng ngoại lực vật liệu nền có vai trò chuyển ứng suất sang vật liệu gia cường.
Ngoài ra, vật liệu nền còn đóng vai trò chính trong việc bảo vệ composite khỏi sự tấn công của môi trường, hóa chất đồng thời đóng vai trò quyết định đến độ bền nhiệt, khả năng gia công… của vật liệu composite. Phân loại composite theo cấu trúc vật liệu gia cường Dựa vào cấu trúc vật liệu gia cường, composite được phân thành 3 nhóm chính: composite gia cường sợi (composite cốt sợi), composite gia cường hạt (composite cốt hạt) và composite cấu trúc. Luan van 3 a) Composite gia cường sợi Composite gia cường sợi (fibre reinforced composite – FRC) là composite có vật liệu gia cường ở dạng sợi, ví dụ như composite sợi thủy tinh, composite sợi tự nhiên… Trong hệ composite này, sợi chịu tải trọng chính, vật liệu nền chỉ đóng vai trò phân bố tải trọng và truyền tải trọng sang sợi cũng như liên kết các sợi lại với nhau. Nói chung, mục đích thiết kế FRC nhằm tạo sản phẩm có modul riêng (modul/khối lượng riêng) và độ bền riêng (độ bền/khối lượng riêng) cao.
Các sợi trong composite có thể được phân bố ngẫu nhiên hoặc có sự định hướng nhất định. Tùy thuộc vào tỉ số chiều dài (l)/đường kính (d) mà composite cốt sợi được phân thành composite sợi liên tục (sợi dài) và composite sợi gián đoạn (sợi ngắn). Composite sợi dài: là composite có tỉ số l/d của sợi tối thiểu là 200. Ngược lại, khi composite có có l/d của sợi nhỏ hơn 200 được xem là composite sợi ngắn.
Composite sợi dài (a) và sợi ngắn (b) Trong composite gia cường sợi, hiệu quả gia cường và khả năng điều chỉnh sự sắp xếp của sợi ngắn kém hơn sợi dài. Sự sắp xếp của sợi ngắn thường kém chặt chẽ hơn nên hàm lượng sợi trong composite sợi ngắn thường thấp hơn trong composite sợi dài. Tuy nhiên, tính chất bất đẳng hướng của composite sợi ngắn bé hơn so với composite sợi dài. b) Composite gia cường hạt Composite gia cường hạt (Particulate reinforced composite): là composite được gia cường bởi các hạt với các hình dạng (hình cầu, que, vảy.) và cỡ kích khác nhau như bột gỗ, than đen, talc, cao lanh, vảy mica, sắt, đồng, nhôm… Luan van 4 Các vật liệu gia cường hạt có kích cỡ macro, micro hoặc nano và thường có độ cứng cao hơn vật liệu nền.
Một số vật liệu gia cường dạng hạt có thể cải thiện các tính chất của composite như giảm co ngót, chống chảy, kháng mài mòn, chịu nhiệt… Tuy nhiên, khả năng cải thiện tính chất cơ lý của vật liệu gia cường dạng hạt thường bé hơn rất nhiều so với vật liệu gia cường dạng sợi và phụ thuộc rất nhiều vào kết dính tại bề mặt ranh giới phân chia pha. Chính vì vậy, vật liệu composite hạt thường được dùng trong các ứng dụng yêu cầu về độ bền không cao. Trong nhiều trường hợp các hạt được sử dụng trong chế tạo composite nhằm mục đích giảm giá thành và tăng độ cứng sản phẩm. c) Composite cấu trúc Composite cấu trúc gồm 2 loại chính: composite dạng lớp (laminate) và sandwich panel.
Composite dạng lớp: được tạo thành từ các lớp cơ sở, lớp thứ nhất là lớp chịu lực (thường là các composite cốt sợi đơn hướng) và lớp thứ hai đóng vai trò liên kết (thường là vật liệu đồng nhất) hoặc có thể được tạo thành từ cùng một loại vật liệu (thường là các composite cốt sợi đơn hướng), gồm nhiều lớp sắp xếp đổi hướng các lớp cho phù hợp yêu cầu thiết kế rồi ép lại sẽ thu được các bán thành phẩm dạng tấm dùng trong xây dựng nhà cửa, làm vỏ thân cánh và đuôi các loại máy bay… Hình 1. Composite dạng lớp Sandwich panel: Cấu tạo gồm hai lớp mặt, là vật liệu có độ bền và cứng cao như tấm cấu trúc composite dạng lớp, hợp kim nhôm, hợp kim titan… và lớp lõi ở giữa, là vật liệu nhẹ, có độ bền và độ cứng tương đối bé. Lớp lõi có tác dụng duy trì khoảng cách giữa hai tấm mặt và giảm biến dạng theo chiều vuông góc mặt tấm, tạo độ cứng nhất định, tránh hiện tượng cong vênh tấm. Lớp lõi thường làm bằng: polymer bọt, cao su nhân tạo, gỗ nhẹ, vật liệu dạng tổ ong.
Composite loại này được ứng dụng rất rộng Luan van 5 rãi: trần, sàn, tường trong xây dựng nhà cửa, làm vỏ thân cánh và đuôi các loại máy bay… Hình 1. Vai trò của các vật liệu thành phần 1. Vai trò của vật liệu gia cường Vật liệu gia cường thường đóng những vai trò chính sau: • Chịu tải trọng tác dụng lên vật liệu composite (đến 70 ÷ 90% tải trọng) nên tính chất cơ lý của vật liệu gia cường thường cao hơn so với vật liệu nền. • Tạo độ cứng, độ bền, ổn định nhiệt và các tính chất cấu trúc khác của composite.
• Tạo cho sản phẩm có tính cách điện hoặc dẫn điện tùy thuộc vào loại vật liệu gia cường. Vai trò của vật liệu nền Vật liệu nền thường chiếm 30 ÷ 40% thể tích của composite, nó đóng những vai trò chính sau: • Liên kết các vật liệu gia cường lại với nhau. • Phân bố tải trọng tác dụng lên vật liệu composite bằng cách truyền tải trọng sang vật liệu gia cường. • Bảo vệ vật liệu khỏi sự tấn công của hóa chất và hơi ẩm.
• Bảo vệ bề mặt sợi khỏi bị phá hủy cơ học (do mài mòn…). • Tạo vẽ thẩm mỹ cho sản phẩm. • Ảnh hưởng lớn đến độ bền lâu, độ dẻo dai, độ bền nhiệt, khả năng gia công… của composite. Ví dụ vật liệu nền dẻo dai sẽ tăng độ dẻo dai cho Luan van 6 sản phẩm.
Đối với những ứng dụng yêu cầu độ dẻo dai cao nên lựa chọn vật liệu nền là polymer nhiệt dẻo. • Ngoài ra, mô hình phá hủy của composite bị ảnh hưởng nhiều bởi loại vật liệu nền cũng như tính tương thích với vật liệu gia cường. Khái niệm về ổn định và mất ổn định Hiện nay có hai quan điểm về ổn định: Quan niệm về ổn định tĩnh của Euler và ổn định về chuyển động của Liapunov. Khái niệm ổn định theo Euler Theo Euler: Trong lĩnh vực công trình, ổn định là tính chất của công trình có khả năng giữ được vị trí ban đầu hoặc dạng cân bằng ban đầu trong trạng thái biến dạng tương ứng với các tải trong tác dụng.
Tính chất của ổn định công trình thường có giới hạn khi tăng lực tác dụng lên công trình. Khi tính chất đó mất đi, công trình không đủ khả năng chịu đựng tải trọng. Lúc này, công trình được gọi là không ổn định. Như vậy vị trí của công trình hay dạng cân bằng của công trình ở trạng thái biến dạng có khả năng ổn định hoặc không ổn định.
Vị trí của công trình hay dạng cân bằng của công trình ở trạng thái biến dạng được gọi là ổn định, nếu sau khi gây cho công trình một độ lệch rất nhỏ khỏi vị trí ban đầu hoặc khỏi dạng cân bằng ban đầu bằng một nguyên nhân nào đó, rồi bỏ nguyên nhân đó đi, thì công trình có khuynh hướng quay trở về trạng thái ban đầu.