Phần mở đầu: Giới thiệu khái quát về đề tài, mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, … - Phần nội dung: Chƣơng 1: Tổng quan về sự cố LOCA trong lò phản ứng PWR Chƣơng 2: Sự cố Small Break Loss Of Coolant Accident ( SB–LOCA) Chƣơng 3: Giới thiệu về chƣơng trình tính toán thủy nhiệt RELAP5 Chƣơng 4: Phân tích sự cố SB–LOCA của lò phản ứng nƣớc áp lực ZION của Mỹ bằng chƣơng trình RELAP5 - Phần kết luận - Tài liệu tham khảo - Phụ lục 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ SỰ CỐ LOCA TRONG LÒ PHẢN ỨNG PWR 1.1 Lò phản ứng PWR PWR là viết tắt tiếng Anh của cụm từ “Pressurized Water Reactors” nghĩa là “lò phản ứng nƣớc áp lực”. PWR bao gồm thùng lò và các nhánh làm mát, một bình điều áp đƣợc kết nối với một trong các nhánh. Thùng lò bao gồm vùng hoạt nơi chứa các bó nhiên liệu hạt nhân, các cột chống đỡ các bó nhiên liệu phía dƣới vùng hoạt, hệ thống thanh điều khiển phía trên vùng hoạt, nƣớc tải nhiệt cũng là nƣớc làm chậm và các khoang dẫn nƣớc.
Mỗi nhánh làm mát bao gồm kênh nóng, bình sinh hơi, bơm và kênh lạnh.1 minh họa phản ứng PWR điển hình với 4 kênh làm mát.1: Sơ đồ minh họa một lò phản ứng PWR Trong vòng sơ cấp, nƣớc đi qua vùng hoạt và nhận nhiệt từ vỏ thanh nhiên liệu. Phần nƣớc nóng này đƣợc đƣa đến lối ra của khoang trên vùng hoạt, sau đó 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chảy qua kênh nóng tới lối vào của bình sinh hơi. Trong bình sinh hơi, nƣớc của vòng sơ cấp trao đổi nhiệt với nƣớc của vòng thứ cấp, sau đó đi qua kênh lạnh và đổ vào khoang lƣu hồi của thùng lò. Khoang này dẫn nƣớc đến lối vào vùng hoạt.
Quá trình tuần hoàn của nƣớc đƣợc lặp lại. - Bình điều áp: có hệ thống sƣởi nƣớc để tạo hơi nƣớc và hệ thống phun nƣớc để làm ngƣng tụ một phần hơi nƣớc, nhằm điều chỉnh áp suất hệ thống trong một khoảng ổn định. +) Hệ thống sưởi nước: là các lò xo nhiệt, đƣợc sử dụng để làm tăng áp suất trong trƣờng hợp hệ thống bị giảm áp. +) Hệ thống phun nước: đƣợc sử dụng để giảm áp suất trong trƣờng hợp hệ thống bị tăng áp quá mức.
Dƣới các điều kiện vận hành bình thƣờng, bình điều áp thƣờng ngập một nửa dƣới là nƣớc và nửa trên là hơi nƣớc bão hòa. Bình điều áp hoạt động theo nguyên tắc bể tràn trong suốt quá trình chuyển tiếp. Trong vòng sơ cấp còn có các hệ thống khác nhƣ hệ thống làm mát vùng hoạt khẩn cấp (ECCS), hệ thống cung cấp và xả nƣớc để bổ sung thành phần hóa học và làm sạch nƣớc… Trong vòng thứ cấp, hơi nƣớc đƣợc sinh ra trong bình sinh hơi, đi qua hệ thống tách ẩm, hệ thống làm khô hơi nƣớc và đi vào tuabin. Tuabin quay đƣợc là nhờ áp lực của hơi nƣớc.
Hơi nƣớc sau khi qua tuabin đƣợc ngƣng tụ và đƣa trở lại bình sinh hơi. Phần nƣớc này đƣợc trộn với phần nƣớc tách từ hệ thống tách ẩm và làm khô hơi nƣớc, đi vào khoang lƣu hồi của bình sinh hơi. Quá trình trao đổi nhiệt giữa nƣớc của vòng sơ cấp và nƣớc của vòng thứ cấp trong bình sinh hơi đƣợc lặp lại. Hiện nay, ở Mỹ có 3 loại lò phản ứng PWR: Babcock và Wilcox (B&W), Combustion Engineering (C-E) và Westinghouse (W).
Về nguyên tắc, các loại lò phản ứng này đƣợc thiết kế và sản xuất tƣơng tự nhau; chúng chỉ khác nhau về cách bố trí đƣờng ống, kích thƣớc của các bộ phận và phần bên trong của thùng lò. Sự khác biệt rõ nét nhất thể hiện ở bình sinh hơi. Lò phản ứng loại C-E và W sử dụng 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bình sinh hơi với các ống dạng chữ U ngƣợc trong khi lò phản ứng loại B&W sử dụng bình sinh hơi với các ống dạng thẳng. Các ống dạng chữ U ngƣợc và dạng thẳng đều đƣợc đặt theo chiều đứng.
Trong khi các ống dạng chữ U đƣợc nhúng hoàn toàn trong “bể” nƣớc của vòng thứ cấp thì các ống dạng thẳng chỉ ngập một phần để trong điều kiện vận hành bình thƣờng, hệ thống tạo ra hơi nƣớc “già” (quá nhiệt) khi nó đi qua các vùng phía trên của bó ống. Trong lò phản ứng sử dụng bình sinh hơi với các ống dạng thẳng, nƣớc của vòng sơ cấp chảy trong các ống này theo chiều từ trên xuống, ngƣợc chiều với nƣớc của vòng thứ cấp và thoát ra ngoài ở đáy của các ống. Bình sinh hơi loại này có 2 pha (nƣớc - hơi nƣớc) cho phép thay đổi tốc độ truyền nhiệt từ vòng sơ cấp tới vòng thứ cấp bằng việc thay đổi chiều cao của mức 2 pha. Bình sinh hơi dùng ống dạng chữ U thay đổi tốc độ truyền nhiệt bằng việc thay đổi áp suất vòng thứ cấp.
Giới thiệu về sự cố LOCA LOCA là viết tắt tiếng Anh của cụm từ “Loss Of Coolant Accident” nghĩa là “sự cố mất nƣớc tải nhiệt”. Sự cố LOCA rất đƣợc quan tâm trong lĩnh vực an toàn lò phản ứng suốt 2 thập kỷ qua. Sự cố LOCA thƣờng đƣợc bắt nguồn từ sự kiện nứt ống nƣớc tải nhiệt của vòng sơ cấp. Ngƣời ta phân loại sự cố LOCA theo kích thƣớc nứt ống: LOCA với vết nứt có kích thƣớc nhỏ (SB–LOCA) có diện tích nứt nhỏ hơn hoặc bằng 465 cm2 (0,5 ft2) và LOCA với vết nứt có kích thƣớc lớn (LB–LOCA) có kích thƣớc từ 465 cm2 đến hai lần tiết diện ngang của ống lớn nhất của hệ thống nƣớc tải nhiệt.
Lò phản ứng nƣớc nhẹ sử dụng nƣớc thƣờng (còn gọi là nƣớc “nhẹ”) vừa làm chất tải nhiệt, vừa làm chất làm chậm. Khi xảy ra sự cố mất nƣớc, khả năng làm chậm nơtron giảm sẽ đƣa lò xuống dƣới tới hạn. Do đó, đặc trƣng an toàn của lò phản ứng nƣớc nhẹ là tự động dừng hoạt động khi bị mất nƣớc. Đặc trƣng này tƣơng ứng với hệ số độ phản ứng âm do phần trống (phần thể tích chiếm bởi hơi nƣớc và khí) của lò phản ứng.
Khi mất nƣớc tải nhiệt, nhiệt tích trữ trong các thanh nhiên liệu đƣợc phân bố lại. Nhiệt độ lớp vỏ thanh nhiên liệu tăng, trong khi nhiệt độ tại đƣờng xuyên 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tâm của các viên nhiên liệu giảm xuống. Mặc dù nhiệt sinh ra do phân rã phóng xạ (nhiệt phân rã) sau khi dập lò chỉ vào khoảng 6% so với nhiệt khi lò ở mức công suất vận hành bình thƣờng, nhƣng do không đƣợc tải đi nên lƣợng nhiệt này có thể làm nóng chảy vỏ thanh nhiên liệu (thƣờng làm bằng hợp kim zirconi). Khi vỏ thanh nhiên liệu bị nóng quá mức sẽ bị oxy hóa bởi nƣớc và hơi nƣớc.
Tốc độ của phản ứng kim loại – nƣớc là không đáng kể ở nhiệt độ thấp, nhƣng tăng nhanh ở nhiệt độ khoảng 1000oC. Phản ứng oxy hóa làm sinh nhiệt, đóng góp thêm vào sự tăng nhiệt độ của vỏ thanh nhiên liệu. Theo phƣơng trình: Zr + H2O -> ZrO2 + H2 + Q Hệ thống ECCS đƣợc thiết kế nhằm duy trì việc tải nhiệt vùng hoạt trong trƣờng hợp sự cố LOCA, cung cấp nƣớc vào tiếp xúc với nhiên liệu, ngăn việc tăng nhiệt độ quá mức của vỏ thanh nhiên liệu. Các hiện tƣợng vật lý trong sự cố LOCA Các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về sự cố LOCA cho thấy, có thể có một số hiện tƣợng vật lý làm cho chức năng của hệ thống ECCS không đƣợc thực hiện một cách hoàn hảo: +) Hiện tượng đi tắt của dòng nước cấp cứu: Hình 1.2 chỉ ra hiện tƣợng xảy ra khi bơm nƣớc làm mát vùng hoạt khẩn cấp vào kênh lạnh của một trong các nhánh làm mát của vòng sơ cấp.
Thông thƣờng nƣớc làm mát đƣợc mong đợi chảy vào trong khoang lƣu hồi và lấp đầy thùng lò. Tuy nhiên, một số thực nghiệm tiến hành tại một phòng thí nghiệm quốc gia của Mỹ chỉ ra rằng, thay vì chảy xuống và lấp đầy khoang lƣu hồi, nƣớc lại chảy vòng quanh vách ngăn vùng hoạt và đi thẳng ra ngoài vết nứt. Hơi nƣớc sinh ra trong thùng lò sẽ dâng lên trong khoang lƣu hồi và thoát ra ngoài vết nứt. Nhƣ mô tả của các đƣờng mũi tên trong hình vẽ, hơi nƣớc dâng lên trong khoang lƣu hồi ngăn cản dòng nƣớc đi xuống.
Việc tính toán chính xác các điều kiện giới hạn đối với dòng thuận nghịch (CCFL) trong khoang lƣu hồi là bài toán cơ học chất lỏng liên quan đến sự chuyển pha khi hơi nƣớc nóng tiếp xúc với dòng nƣớc lạnh. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Hiện tượng đi tắt của dòng nước làm mát vùng hoạt khẩn cấp +) Hiệu ứng vách nóng: Hiện tƣợng sôi của dòng nƣớc cấp cứu: khi tiếp xúc với vách ngoài của khoang lƣu hồi (vỏ thùng lò) và vách trong của khoang lƣu hồi (vách ngăn vùng hoạt), tạo ra hơi nƣớc bổ sung làm cản trở nƣớc cấp cứu đi vào khoang dƣới vùng hoạt. +) Sự ngưng tụ: do tiếp xúc trực tiếp của hơi nƣớc trong kênh lạnh ở gần điểm bơm và trong khoang lƣu hồi với nƣớc cấp cứu lạnh hơn nhƣ đƣợc chỉ ra ở Hình 1.
Sự ngƣng tụ của hơi nƣớc trong khoang lƣu hồi làm giảm lƣợng hơi nƣớc, dẫn đến làm giảm dòng ECCS đi tắt ra ngoài vết nứt. Ảnh hƣởng của vị trí vết nứt lên các đặc trƣng chuyển tiếp Vị trí của vết nứt ảnh hƣởng đến lƣợng nƣớc bị chảy ra khỏi hệ thống và lƣợng nƣớc của hệ thống ECCS đi vào thùng lò. +) Vết nứt ở kênh nóng, kênh lạnh, đỉnh thùng lò, ở đáy thùng lò… vết nứt ở đáy kênh lạnh làm mất nhiều nƣớc hơn vết nứt ở vị trí cao hơn trong hệ thống. Ngoài ra, vết nứt trên kênh lạnh còn làm mất một phần nƣớc đƣợc bơm từ hệ thống ECCS vì thông thƣờng hệ thống ECCS đƣợc gắn trên kênh này.
Vết nứt ở đáy kênh gây ra sự giảm áp chậm hơn vết nứt ở đỉnh kênh và có xu hƣớng bị mất nƣớc hơn là hơi nƣớc. Cả hai hiệu ứng này dẫn đến việc mất nƣớc do vết nứt ở đáy kênh lớn hơn do vết nứt ở đỉnh kênh (Hình 1. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3: Ảnh hưởng của hướng vết nứt đến dòng chảy qua vết nứt Đối với sự cố SB–LOCA, một vị trí quan trọng khác là các van an toàn (PORV) của bình điều áp. Khi xảy ra sự cố SB–LOCA, hiện tƣợng dòng thuận nghịch có thể xuất hiện trong ống nối bình điều áp với kênh nóng dẫn đến ứ đọng dòng.