đặt vấn đề với tư tưởng, quan niệm nhà văn muốn gửi gắm, hẳn phải xem lại ngòi bút của nhà văn ấy chuyển di ra sao. Có nghĩa, muốn thể hiện tư tưởng/ 12 quan niệm/ cuộc đời thì cần lựa chọn sao cho thật khéo một kĩ thuật để mình gửi gắm. Muốn thể hiện cuộc đời, phải xây dựng được một kĩ thuật tương xứng như thế. Điều đó được thâu tóm trong câu nói của Sartre: Mọi kĩ thuật diễn tả đều đưa về một quan niệm siêu hình của tác giả.
Khi đó, mục đích của kĩ thuật là thứ sinh, là song song với ý đồ của người cầm bút làm văn. Kĩ thuật và quan niệm được liên kết với nhau trên một trục ý thức. Người sáng tác/ nhà văn, muốn viết, phải vận hành những cảm, những trải nghiệm và tri thức của mình để nhào nặn ra đứa con thành phẩm. Khoanh vùng hơn, hai bình diện ấy là tiền đề lẫn kết cấu để ở các thể loại văn chương.
Đặc biệt là tiểu thuyết. Nếu không ý thức được quan niệm và kĩ thuật xây dựng, tiểu thuyết trở thành một con dao hai lưỡi, hoặc sắc bén gọt sâu lớp vỏ cuộc đời, hoặc trở ngược “ăn” luôn phần “đời” - tư tưởng của người viết. Tiểu thuyết ở Việt Nam trong độ gần thế kỉ trở lại đây đã có rất nhiều biến đổi mạnh mẽ. Cú lột xác của thể loại này phản ánh sâu sắc sự nhạy thời, tiếp nhận văn đàn Đông - Tây và ý thức bày tỏ, thể hiện cũng như đời sống hóa nghề viết của giới nghệ thuật.
Từ sau năm 1975, về phương diện sáng tác, văn học đã có sự chuyển mình. Đây là giai đoạn “quán tính” của thời kì tiền đổi mới. Thời đoạn này, tiểu thuyết vẫn đang vặn mình theo dòng chảy tự nhiên của lãng mạn, sử thi. Dầu đang trên đà tiếp nhận văn học thế giới, chịu bão hòa và vô định bởi nhiều luồng dư luận, tiểu thuyết Việt Nam đã ướm thử rất nhiều mẫu phục trang, sẵn sàng cho mình một tâm thế trước khi bước vào Đổi mới từ sau 1986.
Bức tranh sắc nét và mới lạ nhất, đồng thời là bộ phận có ảnh hưởng bởi tư duy ứng dụng phân tâm học, hẳn không thể không nhắc đến hệ tiểu thuyết nữ. Bức tranh tiểu thuyết nữ Việt Nam sau 1986 Nói như Nguyễn Văn Trung trong Bàn về Tiểu Thuyết, tiểu thuyết được hiểu bởi hai quan niệm: Thứ nhất, như là một quang cảnh. Thứ hai, như là một ý thức. Nếu ứng phép chiếu này với Tiểu thuyết nữ ở Việt Nam, dường như quan niệm trên đây đã định hình một trục sơ đồ vừa khít.
Tiểu thuyết nữ Việt Nam, trước nhất là vấn đề văn đàn đã xuất hiện sự “đặt mặt, gọi tên” của các nữ sĩ. Cụ thể với quan niệm, tiểu thuyết như một quanh cảnh: Phụ nữ Việt Nam là một chuẩn mực hình ảnh của văn hóa phương Đông. Người phụ nữ nói chung và các nữ nghệ sĩ nói riêng bị kìm hãm trong những định kiến, phong tục, quy củ của xã hội. Do vậy, văn chương nói đến Hồ Xuân Hương, thì như một hiện tượng lạ, rất lạ.
Bởi bà đã dám vượt thoát ra một hệ tư 13 tương khép kín, tuần hoàn, chặt chẽ và có phần khắc nghiệt. Xuân Hương với tâm thế và sự mạnh lời của mình đã đưa tư tưởng cá thể đi trước cả một thời đại. Quay về với thể loại, tiểu thuyết Việt Nam có nhiều biến động theo dòng lịch sử văn học. Ở mỗi giai đoạn, tiểu thuyết bị chi phối bởi nhiều luồng mạch sáp nhập nhất thời, đứt đoạn.
Tiền Đổi mới, Bùi Việt Thắng có nói: “Cái căn cốt của tác phẩm này (tác phẩm tiểu thuyết) là nhìn thẳng vào sự thật, viết sự thật về chiến tranh. Cho đến tận hôm nay thì tinh thần vì sự thật vẫn luôn là một nhu cầu thúc bách và thường trực của nhà văn. Nhưng trên quan điểm phát triển thì viết đúng sự thật cũng chưa phải là nhân tố hàng đầu quyết định sự thành bại của văn học. Nói cách khác mới chỉ là yếu tố cần nhưng chưa đủ.
Bản thân khái niệm “sự thật” trong văn học cũng luôn có biến động (sự thật sự kiện hay sự thật tâm hồn? Sự thật phía ánh sáng hay phía bóng tối? Sự thật có lợi cho nhân dân hay một nhóm lợi ích?” [24]. Lúc này, tiểu thuyết không kể chủ thể/ đối tượng phải xoay quanh những vấn đề cộng sinh quanh mình, buộc lòng quên đi cá thể nội tại. Như vậy, không phải là hệ tiểu thuyết bấy giờ xây dựng để phục vụ cộng đồng tuyệt đối. Người làm nghệ thuật, xuất phát là muốn tìm cái tôi, xây dựng cái tôi và thể hiện cái tôi.
Có chăng, họ đang tuân theo kim chỉ nam: “Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất trực tiếp của tư duy”. Bối cảnh xã hội đang vùng vẫy trong cách mạng, trong cái đói nghèo, trong xây dựng xã hội chủ nghĩa. Ngay khi miếng cơm chưa nuôi vừa vặn cái bụng, triết lí cá nhân phó mặc trong tác phẩm văn học liệu chừng có thực ý nghĩa và đáng để quan tâm. Nhưng lại một lần nữa vận động theo quy tắc của lịch sử, tiểu thuyết Việt Nam, cụ thể là tiểu thuyết nữ, đã vượt thoát, trườn lên tất thảy, định hình định khối và kịp gọi cho mình một cái tên trước khi bước qua cơn hồng thủy của Đổi mới.
Vậy, diện mạo của tiểu thuyết nữ Việt Nam từ sau năm 1986 là như thế nào? Diện mạo ấy trước nhất, là biến đổi của tư duy cá nhân và định kiến xã hội. Ăng - ghen từng nói đại ý rằng, “sự giải phóng phụ nữ là thước đo của sự giải phóng xã hội. Cho nên mỗi bước tiến lên của xã hội được ghi dấu bằng chính sự giải phóng sức sản xuất tinh thần, trong đó có sáng tác của văn học nữ giới” [8; 137]. Tâm thế của người phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ phương Đông luôn bị bó hẹp bởi những điều thường nhật, tủm mủn, những thường tình đến khắt khe của lễ giáo phong kiến, đạo đức và chế độ.
Văn và đời, đời và văn xoắn luyến lấy nhau, còn người sáng tạo là kẻ ngoài cuộc quan sát tất thảy. Do vậy, góc nhìn của giới là như nhau, chỉ khác ở tiếng nói được - phép - 14 phát ngôn. Thậm chí, cần thừa nhận rằng, nữ giới sở hữu nhanh nhạy hơn về tâm lí và cảm xúc bởi năng lực của tâm lí. Sự khác biệt được xem là hạn chế trong sáng tác văn chương, ấy là chiều kích bao la của không gian và những xung đột phức tạp của xã hội.
Diện sống của nữ giới bị giới hạn bởi “quyền”. Cường quyền, nam quyền, thần quyền, tôi quyền buộc phụ nữ xoay quanh đời sống gia đình. Đó là những mâu thuẫn nước đôi của sáng tạo nghệ thuật ở nữ sĩ. Do vậy, dầu có sự tiến bộ hay ưu việt, khuynh hướng chung cũng không được thể hiện.
Cho đến sau Cách mạng, sát kề Đổi mới, phụ nữ dần được bình quyền, hình thành một dòng văn học của giới. Tương đối mà nhận xét, tư tưởng và độ cảm của nam giới và nữ giới trong nghệ thuật là lý tưởng như nhau. Mặt khác, nữ giới rất đa dạng, tinh tế với năng lực ngôn ngữ. Đặc trưng của tính giàu tình cảm đó vô hình trung bồi đắp cho nghệ thuật một lớp phủ ấm áp, dịu dàng, trữ tình nhất định.
Song song đó, năng lực tưởng tượng được dự phóng mạnh mẽ: “Nhiều lúc tôi thoát khỏi bản thân mình và nghiễm nhiên biến thành một cây cao, có lúc tôi tưởng tượng mình là ngọn cỏ lùa, một con chim đang bay, một luồng nước chảy, có lúc là ngọn cây, là chòm mây, là nơi tiếp giáp giữa mặt đất trời, cũng có lúc tự thấy mình là màu sắc này, là hình thể kia, thoáng chốc biến hóa đi, đi về không hề vướng víu. Lúc thì đi, lúc thì bay, lúc lặn, có lúc đang hút những giọt sương rơi. Tôi nở những đóa hoa hướng dương, hoặc đang ngủ ngon dưới bóng lá. Như vậy để thấy được tiềm năng nội tại của người phụ nữ, cần có cái nhìn linh hoạt của hoàn cảnh, biến đổi lịch sử.
bên cạnh đó, còn là những vấn đề về giới - gắn chặt với cánh cửa tinh thần của con người. Nhìn lại chặng đường tiểu thuyết nữ Việt Nam, khi các mảnh đất đã lần lượt được khai hoang, thì những hạt mầm đã dần nảy lên những thửa trù phú. Tiểu thuyết được các nữ sĩ xây dựng, sắp xếp từ những mảnh ghép tâm hồn, cùng cái nhìn nghệ thuật về cuộc đời. Khác với thế hệ sinh ra trước chiến tranh như Y Ban, Thùy Dương, Dạ Ngân, Song Cầm, Lê Vân.
Họ có đặc điểm chung là trải qua nỗi đau chiến tranh. Họ vừa là chứng nhân, vừa là nạn nhân chịu sự khâu vá của vết thương của lịch sử dân tộc. Cuộc đời gắn bó với những biến cố, đau thương đó, nên ngòi bút của họ có hệ lụy của sự kiện, lịch sử, điều kiện xã hội. Còn với Phạm Thị Hoài, “sự phân hóa diễn ra gay gắt cùng sự gay gắt trong ý thức đổi mới và bứt phá đổi mới của 15 tác giả.
Sự rốt ráo từ bỏ lối tư duy và trường ngôn ngữ văn học cũ đã là nguyên cớ cho sự đồng tình hay là lên án” [17; 330 - 331]. Đây cũng chính là những tín hiệu đầu của một bộ phận song song, là dòng văn học tiểu thuyết Hải ngoại sau Đổi mới, hay còn gọi là di dân, cũng đã bồi đắp nên miền tác phẩm và thổi một luồng gió mới cho sức sống văn học giai đoạn này. Điểm mặt, kể tên như Đoàn Minh Phượng, Phạm Thị Hoài, Lê Minh Hà. (Đức), Đoàn Ánh Thuận (Thuận), Linđa Lê, Trần Minh Huy.
(Pháp), Lý Lan, Phan Việt, Diễm Thúy. Bộ phận này cũng tương tự như dòng văn học trong nước: sinh ra trước và sau thời chiến. Tiếp cận với sau Đổi mới, có thể điểm qua những vườn ươm đầu với nghệ thuật vị nghệ thuật với tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài là một minh chứng,. Vượt thoát những rào cản của tư tưởng, những luật lệ tự tạo của định kiến, Thiên sứ đã trả lại bản thể cho cái muốn nói và cái cần nói, khi mà bối cảnh Đổi mới chưa kịp câu nệ giữa mối quan hệ chính trị và bình diện tri thức/ quyền lực.
Tuy vấp nhiều rào cản buổi đầu, nhưng phải thừa nhận rằng: “Ở Việt Nam, cách viết của Phạm Thị Hoài khiến đọc giả và những nhà phê bình hết lời ca ngợi và cũng lắm kẻ chê bai.