Tiểu Thuyết Của Thuận Và Đoàn Minh Phượng Từ Góc Nhìn Phân Tâm Học

Khám phá luận văn tiểu thuyết của Thuận và Đoàn Minh Phượng qua lăng kính phân tâm học, phân tích sâu sắc tâm lý nhân vật và mối quan hệ.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Sư phạm Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

74
8
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Bố cục khóa luận

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG

1.1. Khái quát về lí thuyết phê bình phân tâm học

1.2. Phê bình phân tâm học - hệ thống lí thuyết “mở” phân tích chiều sâu tâm lí

1.3. Tiếp nhận lí thuyết phê bình phân tâm học trong Văn học Việt Nam

1.4. Ảnh hưởng của phân tâm học trong tiểu thuyết nữ Việt Nam sau 1986

1.5. Bức tranh tiểu thuyết nữ Việt Nam sau 1986

1.6. Vận dụng phân tâm học trong tiểu thuyết nữ Việt Nam sau 1986

1.7. Hành trình sáng tạo tiểu thuyết của Thuận và Đoàn Minh Phượng – những tiếng vọng trong chiều sâu hữu thể

1.8. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA THUẬN VÀ ĐOÀN MINH PHƯỢNG THAM CHIẾU TỪ BẢN LƯỢC ĐỒ PHÂN TÂM HỌC

2.1. Con người vô thức

2.2. Đời sống phức cảm - mất mát và cô đơn

2.3. Những tra vấn về cội nguồn bản thể

2.4. Con người bản năng. Bản năng sống và bản năng chết

2.5. Dục vọng và nổi loạn

2.6. Con người chấn thương

2.7. Những vá ghép của dư chấn hậu chiến

2.8. Hành trình tìm lại “tôi” và những ngã rẽ tâm thức

2.9. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN TRONG TIỂU THUYẾT THUẬN VÀ ĐOÀN MINH PHƯỢNG NHÌN TỪ LÍ THUYẾT PHÂN TÂM HỌC

3.1. Tổ chức điểm nhìn

3.2. Điểm nhìn “tẩy trắng” - bản tự thuật nữ quyền. Điểm nhìn trao vai – sự truy tìm trong tinh thần nhân thể

3.3. Xây dựng kết cấu

3.4. Kết cấu tâm trạng

3.5. Kết cấu lắp ghép, đồng hiện

3.6. Không - Thời gian nghệ thuật

3.7. Không gian nghệ thuật

3.8. Thời gian nghệ thuật

3.9. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Phân Tâm Học Trong Tiểu Thuyết Tổng Quan Ứng Dụng

Phê bình văn học, như Belinxki nhận định, là sự tự ý thức của văn học. Nó phản ánh thời đại và xã hội, vận động theo chuỗi liên kết từ hiện thực đến nhà văn, tác phẩm, bạn đọc, và ngược lại. Phê bình phân tâm học, một trong những phương pháp đa chiều, khai thác chiều sâu tinh thần hữu thể. Xuất phát từ ngành y học, phân tâm học đã mở rộng sang nhiều lĩnh vực, bao gồm văn học, với sự đóng góp của Jung và Lacan. Nó nghiên cứu tâm lý, phán đoán lâm sàng, giải thích nguyên căn, và đồng nhất tác giả với bạn đọc. Phê bình phân tâm học, như một phiên bản 3D, khám phá những mảng khuất của văn học và nghệ thuật, đặc biệt là trong việc phân tích các tác phẩm của Thuận và Đoàn Minh Phượng.

1.1. Lịch Sử Phát Triển Phân Tâm Học Trong Văn Học

Phân tâm học, manh nha từ phương Tây, đã trải qua nhiều biến thiên. Tại Việt Nam, nó mới được nghiên cứu và ứng dụng trong vài thập niên gần đây, mang lại nhiều đột phá. Đề tài này, dưới góc nhìn phân tâm học, giải quyết những siêu thể văn học trong một giai đoạn cụ thể. Văn học Việt Nam sau 1986 đã có nhiều đổi mới, ảnh hưởng mạnh mẽ đến ngòi viết của các nhà văn, trong đó có Thuận và Đoàn Minh Phượng. Các tác phẩm của họ luôn hướng về quê hương và cội nguồn, phản ánh thế giới nội tâm phức tạp.

1.2. Vai Trò Của Vô Thức Trong Phân Tích Văn Học

Phân tâm học tập trung vào vô thức, tính dục, và cơ cấu nhân cách. Phê bình phân tâm học thường tìm kiếm những "chấn thương tinh thần" trong thời thơ ấu của nhà văn, tin rằng chúng có thể tái hiện trong tác phẩm qua vô thức. Điều này giúp giải thoát các mặc cảm thời thơ ấu như mặc cảm Oedipe, mặc cảm hoạn, hoặc mặc cảm bị ruồng bỏ. Đồng thời, nó khám phá những sự mượn/gửi/hàm ẩn vô tình hay cố ý trong tác phẩm, mở ra một không gian sáng tạo vượt thoát khỏi giới hạn của hiện thực.

II. Thách Thức Tranh Cãi Khi Ứng Dụng Phân Tâm Học

Phân tâm học, với việc lấy vô thức làm căn nguyên, từng bị xem là kẻ lạ mặt trong văn đàn. Tuy nhiên, nó mang đến những chìa khóa mới, hé mở những cánh cửa lạ. Nghiên cứu tác phẩm dưới góc độ phân tâm học là đi sâu vào thế giới tâm lý của người sáng tạo, nhân vật, và cả bạn đọc. Nó phá vỡ lớp vỏ ngôn từ để khám phá những tri kiến thẩm mỹ và dụ ý nghệ thuật. Nhà phê bình phân tâm học Pháp J. Lacan cho rằng nhà phân tâm học vừa lý giải, vừa sản sinh ra văn bản của vô thức. Do vậy, vận dụng phê bình phân tâm học đòi hỏi vừa tiếp nhận, vừa thẩm thấu, liên tưởng, và tạo ra cái mới.

2.1. Những Luồng Ý Kiến Trái Chiều Về Phân Tâm Học

Phê bình phân tâm học từng trải qua thăng trầm vì khó chấp nhận cái đẹp và tư duy xã hội bị đánh đồng với những lý luận suy diễn. Một mặt khác, phân tâm học khai thác tính dục và bản năng, điều mà nhiều người cho là cấm kỵ. Việc đi tìm căn nguyên không thực thấy, quy tụ bởi những yếu tố bên trong, khó thuyết phục. Do đó, cần có một góc nhìn toàn diện và sâu sát hơn, bởi mỗi phương pháp nghiên cứu có một trường đối tượng đặc thù riêng.

2.2. Xác Định Đối Tượng Nghiên Cứu Phân Tâm Học

Đối tượng khảo sát của phê bình phân tâm học mang những cơ chế riêng về vô thức, tâm lý ẩn lấp dưới hình tượng và ngôn ngữ. Qua đó, phát ra những tín hiệu mà phân tâm học có thể khai thác và ứng dụng. Số lượng tác phẩm như vậy không nhiều, đòi hỏi việc ứng dụng cần thiết đi đôi với sàng lọc và xác định đối tượng một cách tổng quát và khả thi nhất. Đây vừa là mảnh đất màu mỡ cho cái mới, vừa là thách thức lớn lao.

III. Phân Tâm Học Giải Mã Tiểu Thuyết Thuận Minh Phượng

Phân tâm học giúp giải mã những vấn đề gì trong tiểu thuyết của Thuận và Đoàn Minh Phượng? Trước hết, cần nhận định nhất quán về đối tượng của phân tâm học: tâm lý học về cái vô thức. Trong hệ thống lý thuyết này, các yếu tố liên quan chặt chẽ với nhau là vô thức, tính dục và cơ cấu nhân cách. Phê bình phân tâm học thường lần theo dấu vết thời thơ ấu của nhà văn, đi tìm những “chấn thương tinh thần” mà nhà văn trải qua. Nhà phê bình tin rằng những chấn thương tinh thần này có khả năng được tái hiện trong tác phẩm của nhà văn qua vô thức như là một sự giải thoát các mặc cảm thời thơ ấu.

3.1. Phân Tích Chấn Thương Tinh Thần Trong Tác Phẩm

Những dấu ấn tác động từ tiểu sử/cuộc đời người sáng tác, phân tâm học dường như mở ra cánh cửa khám phá những sự mượn/gửi/hàm ẩn vô tình hay cố ý ngay trong tác phẩm. Trong không gian của nghệ thuật, sáng tạo được tỏa sáng, bùng nổ hay thậm chí là vượt thoát khỏi những giới hạn của hiện thực. Đôi khi, người nghệ sĩ lạc nhịp trong không gian ngưng đọng và bức bối của tinh thần đó, những mơ tưởng hay huyễn ảo được nảy sinh.

3.2. Ký Ức Tập Thể Biểu Tượng Trong Tiểu Thuyết

Con người không chỉ lưu giữ ký ức của cá nhân mà còn có khả năng lưu giữ ký ức của tập thể. Đó là phát hiện của G. Jung - nhà phân tâm học thế hệ hậu S. Những ranh giới của tâm thần này lần theo dấu vết của nơi cất dấu kí ức để kiến giải được những biểu tượng về bản năng, cổ mẫu hay vô thức tập thể. Các biểu tượng / cổ mẫu có liên hệ sâu xa với các tập tục, tín ngưỡng, bản sắc văn hóa của một tộc người, một cộng đồng dân cư, mang tâm thức cội nguồn.

IV. Tiểu Thuyết Thuận Đoàn Minh Phượng Lịch Sử Tiếp Nhận

Thuận và Đoàn Minh Phượng là hai nhà văn không quá nổi bật trên văn đàn nước nhà, tuy nhiên những tác phẩm của hai tác giả này như được thổi những luồng sinh khí mới mẻ và lạ lẫm. Do vậy, đổi khẩu vị là điều người ta vẫn hứng thú trong một thực đơn khá quen thuộc. Các tác phẩm của hai nữ nhà văn đã có nhiều công trình tiếp nhận, đi sâu hay đơn thuần là cảm thụ qua nhiều khía cạnh khác nhau. Có thể điểm qua một số công trình, tiểu luận và bài báo dưới đây.

4.1. Và Khi Tro Bụi Ám Ảnh Bản Thể Ẩn Ức

Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng trong công trình “Ám ảnh bản thể hay sự trốn chạy những ẩn ức của con người hiện đại” của Nguyễn Thùy Trang (Đại học Sư phạm Huế) như một lối mở cho những liên hệ giữa tâm thức thuộc về phân tâm và bản thể con người. “Với tâm thức hiện sinh, nhà văn Đoàn Minh Phượng đã lật xới một cuộc tìm kiếm bản thể của những con người cô đơn, chới với trong thế giới hiện đại, xa lạ. Đồng thời tác giả cũng phần nào cho thấy tâm trạng của những con người xa xứ, lạc lõng nơi đất khách” [26].

4.2. Thang Máy Sài Gòn Cô Đơn Kiếm Tìm Bản Thể

Trong Sự trở lại của khuynh hướng hiện sinh trong văn xuôi Việt Nam đương đại của Nguyễn Thái Hoàng trên Tạp chí Cửa Việt số 249, tháng 6 năm 2015 có nhắc đến Thang máy Sài Gòn và một số tiểu thuyết của Thuận như sự “phi lí đến tàn nhẫn, cô đơn là định mệnh không thể tránh khỏi của con người và hơn lúc nào hết, cô đơn là trải nghiệm sinh tồn của con người hiện đại và thời hiện đại là thời của cô đơn . Đó không còn là nỗi cô đơn “tâm trạng”, mang tính thời điểm mà là nỗi cô đơn mang tính bản thể và tưởng chừng vĩnh viễn”, những cô đơn và kiếm tìm của Thuận và thực tại phản ánh một tư duy của tư tưởng và đời sống mà con người luôn chỉ có một mình” [21].

V. Nghiên Cứu Phân Tâm Học Hướng Tiếp Cận Mới Cho Thuận

Như vậy, tựu chung lại, tiểu thuyết Thang máy Sài Gòn, Và khi tro bụi cũng như một số tác phẩm của tác giả đã được tiếp nhận từ nhiều góc nhìn. Tuy nhiên, ở khía cạnh phân tâm học chưa thực sự có công trình chuyên sâu hay khai mở cùng hành trình sáng tạo của tác giả và đặc điểm tiếp nhận văn học của giai đoạn này để nhận dạng rõ ràng, như Dương Bình Nguyên nói: Một dòng văn học của những ngòi bút mang tâm thức cô đơn đến hai lần.

5.1. Đối Tượng Phạm Vi Nghiên Cứu Phân Tâm Học

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Tiểu thuyết của Thuận và Đoàn Minh Phượng từ góc nhìn phân tâm học (khảo sát qua Thang máy Sài Gòn của Thuận, Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng). Phạm vi nghiên cứu Tiểu thuyết Thang máy Sài Gòn (Thuận), Và khi tro bụi (Đoàn Minh Phượng). Ngoài ra, khóa luận chúng tôi còn khảo sát một số tiểu thuyết của của hai tác giả này và các tác giả khác liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài.

5.2. Phương Pháp Nghiên Cứu Phân Tâm Học

Phương pháp nghiên cứu bao gồm: Phương pháp thống kê phân loại, Phương pháp so sánh - đối chiếu, Phương pháp phân tích - tổng hợp, Phương pháp phân tâm học. Bố cục khóa luận Ngoài phần mở đầu, kết thúc và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được triển khai gồm ba chương. Chương 1: Những vấn đề lí luận chung Chương 2: Con người trong tiểu thuyết của Thuận và Đoàn Minh Phượng tham chiếu từ bản lược đồ phân tâm học Chương 3: Nghệ thuật thể hiện trong tiểu thuyết của Thuận và Đoàn Minh Phượng nhìn từ lí thuyết phân tâm học.

05/06/2025
Luận văn tiểu thuyết của thuận và đoàn minh phượng từ góc nhìn phân tâm học

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề với tư tưởng, quan niệm nhà văn muốn gửi gắm, hẳn phải xem lại ngòi bút của nhà văn ấy chuyển di ra sao. Có nghĩa, muốn thể hiện tư tưởng/ 12 quan niệm/ cuộc đời thì cần lựa chọn sao cho thật khéo một kĩ thuật để mình gửi gắm. Muốn thể hiện cuộc đời, phải xây dựng được một kĩ thuật tương xứng như thế. Điều đó được thâu tóm trong câu nói của Sartre: Mọi kĩ thuật diễn tả đều đưa về một quan niệm siêu hình của tác giả.

Khi đó, mục đích của kĩ thuật là thứ sinh, là song song với ý đồ của người cầm bút làm văn. Kĩ thuật và quan niệm được liên kết với nhau trên một trục ý thức. Người sáng tác/ nhà văn, muốn viết, phải vận hành những cảm, những trải nghiệm và tri thức của mình để nhào nặn ra đứa con thành phẩm. Khoanh vùng hơn, hai bình diện ấy là tiền đề lẫn kết cấu để ở các thể loại văn chương.

Đặc biệt là tiểu thuyết. Nếu không ý thức được quan niệm và kĩ thuật xây dựng, tiểu thuyết trở thành một con dao hai lưỡi, hoặc sắc bén gọt sâu lớp vỏ cuộc đời, hoặc trở ngược “ăn” luôn phần “đời” - tư tưởng của người viết. Tiểu thuyết ở Việt Nam trong độ gần thế kỉ trở lại đây đã có rất nhiều biến đổi mạnh mẽ. Cú lột xác của thể loại này phản ánh sâu sắc sự nhạy thời, tiếp nhận văn đàn Đông - Tây và ý thức bày tỏ, thể hiện cũng như đời sống hóa nghề viết của giới nghệ thuật.

Từ sau năm 1975, về phương diện sáng tác, văn học đã có sự chuyển mình. Đây là giai đoạn “quán tính” của thời kì tiền đổi mới. Thời đoạn này, tiểu thuyết vẫn đang vặn mình theo dòng chảy tự nhiên của lãng mạn, sử thi. Dầu đang trên đà tiếp nhận văn học thế giới, chịu bão hòa và vô định bởi nhiều luồng dư luận, tiểu thuyết Việt Nam đã ướm thử rất nhiều mẫu phục trang, sẵn sàng cho mình một tâm thế trước khi bước vào Đổi mới từ sau 1986.

Bức tranh sắc nét và mới lạ nhất, đồng thời là bộ phận có ảnh hưởng bởi tư duy ứng dụng phân tâm học, hẳn không thể không nhắc đến hệ tiểu thuyết nữ. Bức tranh tiểu thuyết nữ Việt Nam sau 1986 Nói như Nguyễn Văn Trung trong Bàn về Tiểu Thuyết, tiểu thuyết được hiểu bởi hai quan niệm: Thứ nhất, như là một quang cảnh. Thứ hai, như là một ý thức. Nếu ứng phép chiếu này với Tiểu thuyết nữ ở Việt Nam, dường như quan niệm trên đây đã định hình một trục sơ đồ vừa khít.

Tiểu thuyết nữ Việt Nam, trước nhất là vấn đề văn đàn đã xuất hiện sự “đặt mặt, gọi tên” của các nữ sĩ. Cụ thể với quan niệm, tiểu thuyết như một quanh cảnh: Phụ nữ Việt Nam là một chuẩn mực hình ảnh của văn hóa phương Đông. Người phụ nữ nói chung và các nữ nghệ sĩ nói riêng bị kìm hãm trong những định kiến, phong tục, quy củ của xã hội. Do vậy, văn chương nói đến Hồ Xuân Hương, thì như một hiện tượng lạ, rất lạ.

Bởi bà đã dám vượt thoát ra một hệ tư 13 tương khép kín, tuần hoàn, chặt chẽ và có phần khắc nghiệt. Xuân Hương với tâm thế và sự mạnh lời của mình đã đưa tư tưởng cá thể đi trước cả một thời đại. Quay về với thể loại, tiểu thuyết Việt Nam có nhiều biến động theo dòng lịch sử văn học. Ở mỗi giai đoạn, tiểu thuyết bị chi phối bởi nhiều luồng mạch sáp nhập nhất thời, đứt đoạn.

Tiền Đổi mới, Bùi Việt Thắng có nói: “Cái căn cốt của tác phẩm này (tác phẩm tiểu thuyết) là nhìn thẳng vào sự thật, viết sự thật về chiến tranh. Cho đến tận hôm nay thì tinh thần vì sự thật vẫn luôn là một nhu cầu thúc bách và thường trực của nhà văn. Nhưng trên quan điểm phát triển thì viết đúng sự thật cũng chưa phải là nhân tố hàng đầu quyết định sự thành bại của văn học. Nói cách khác mới chỉ là yếu tố cần nhưng chưa đủ.

Bản thân khái niệm “sự thật” trong văn học cũng luôn có biến động (sự thật sự kiện hay sự thật tâm hồn? Sự thật phía ánh sáng hay phía bóng tối? Sự thật có lợi cho nhân dân hay một nhóm lợi ích?” [24]. Lúc này, tiểu thuyết không kể chủ thể/ đối tượng phải xoay quanh những vấn đề cộng sinh quanh mình, buộc lòng quên đi cá thể nội tại. Như vậy, không phải là hệ tiểu thuyết bấy giờ xây dựng để phục vụ cộng đồng tuyệt đối. Người làm nghệ thuật, xuất phát là muốn tìm cái tôi, xây dựng cái tôi và thể hiện cái tôi.

Có chăng, họ đang tuân theo kim chỉ nam: “Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất trực tiếp của tư duy”. Bối cảnh xã hội đang vùng vẫy trong cách mạng, trong cái đói nghèo, trong xây dựng xã hội chủ nghĩa. Ngay khi miếng cơm chưa nuôi vừa vặn cái bụng, triết lí cá nhân phó mặc trong tác phẩm văn học liệu chừng có thực ý nghĩa và đáng để quan tâm. Nhưng lại một lần nữa vận động theo quy tắc của lịch sử, tiểu thuyết Việt Nam, cụ thể là tiểu thuyết nữ, đã vượt thoát, trườn lên tất thảy, định hình định khối và kịp gọi cho mình một cái tên trước khi bước qua cơn hồng thủy của Đổi mới.

Vậy, diện mạo của tiểu thuyết nữ Việt Nam từ sau năm 1986 là như thế nào? Diện mạo ấy trước nhất, là biến đổi của tư duy cá nhân và định kiến xã hội. Ăng - ghen từng nói đại ý rằng, “sự giải phóng phụ nữ là thước đo của sự giải phóng xã hội. Cho nên mỗi bước tiến lên của xã hội được ghi dấu bằng chính sự giải phóng sức sản xuất tinh thần, trong đó có sáng tác của văn học nữ giới” [8; 137]. Tâm thế của người phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ phương Đông luôn bị bó hẹp bởi những điều thường nhật, tủm mủn, những thường tình đến khắt khe của lễ giáo phong kiến, đạo đức và chế độ.

Văn và đời, đời và văn xoắn luyến lấy nhau, còn người sáng tạo là kẻ ngoài cuộc quan sát tất thảy. Do vậy, góc nhìn của giới là như nhau, chỉ khác ở tiếng nói được - phép - 14 phát ngôn. Thậm chí, cần thừa nhận rằng, nữ giới sở hữu nhanh nhạy hơn về tâm lí và cảm xúc bởi năng lực của tâm lí. Sự khác biệt được xem là hạn chế trong sáng tác văn chương, ấy là chiều kích bao la của không gian và những xung đột phức tạp của xã hội.

Diện sống của nữ giới bị giới hạn bởi “quyền”. Cường quyền, nam quyền, thần quyền, tôi quyền buộc phụ nữ xoay quanh đời sống gia đình. Đó là những mâu thuẫn nước đôi của sáng tạo nghệ thuật ở nữ sĩ. Do vậy, dầu có sự tiến bộ hay ưu việt, khuynh hướng chung cũng không được thể hiện.

Cho đến sau Cách mạng, sát kề Đổi mới, phụ nữ dần được bình quyền, hình thành một dòng văn học của giới. Tương đối mà nhận xét, tư tưởng và độ cảm của nam giới và nữ giới trong nghệ thuật là lý tưởng như nhau. Mặt khác, nữ giới rất đa dạng, tinh tế với năng lực ngôn ngữ. Đặc trưng của tính giàu tình cảm đó vô hình trung bồi đắp cho nghệ thuật một lớp phủ ấm áp, dịu dàng, trữ tình nhất định.

Song song đó, năng lực tưởng tượng được dự phóng mạnh mẽ: “Nhiều lúc tôi thoát khỏi bản thân mình và nghiễm nhiên biến thành một cây cao, có lúc tôi tưởng tượng mình là ngọn cỏ lùa, một con chim đang bay, một luồng nước chảy, có lúc là ngọn cây, là chòm mây, là nơi tiếp giáp giữa mặt đất trời, cũng có lúc tự thấy mình là màu sắc này, là hình thể kia, thoáng chốc biến hóa đi, đi về không hề vướng víu. Lúc thì đi, lúc thì bay, lúc lặn, có lúc đang hút những giọt sương rơi. Tôi nở những đóa hoa hướng dương, hoặc đang ngủ ngon dưới bóng lá. Như vậy để thấy được tiềm năng nội tại của người phụ nữ, cần có cái nhìn linh hoạt của hoàn cảnh, biến đổi lịch sử.

bên cạnh đó, còn là những vấn đề về giới - gắn chặt với cánh cửa tinh thần của con người. Nhìn lại chặng đường tiểu thuyết nữ Việt Nam, khi các mảnh đất đã lần lượt được khai hoang, thì những hạt mầm đã dần nảy lên những thửa trù phú. Tiểu thuyết được các nữ sĩ xây dựng, sắp xếp từ những mảnh ghép tâm hồn, cùng cái nhìn nghệ thuật về cuộc đời. Khác với thế hệ sinh ra trước chiến tranh như Y Ban, Thùy Dương, Dạ Ngân, Song Cầm, Lê Vân.

Họ có đặc điểm chung là trải qua nỗi đau chiến tranh. Họ vừa là chứng nhân, vừa là nạn nhân chịu sự khâu vá của vết thương của lịch sử dân tộc. Cuộc đời gắn bó với những biến cố, đau thương đó, nên ngòi bút của họ có hệ lụy của sự kiện, lịch sử, điều kiện xã hội. Còn với Phạm Thị Hoài, “sự phân hóa diễn ra gay gắt cùng sự gay gắt trong ý thức đổi mới và bứt phá đổi mới của 15 tác giả.

Sự rốt ráo từ bỏ lối tư duy và trường ngôn ngữ văn học cũ đã là nguyên cớ cho sự đồng tình hay là lên án” [17; 330 - 331]. Đây cũng chính là những tín hiệu đầu của một bộ phận song song, là dòng văn học tiểu thuyết Hải ngoại sau Đổi mới, hay còn gọi là di dân, cũng đã bồi đắp nên miền tác phẩm và thổi một luồng gió mới cho sức sống văn học giai đoạn này. Điểm mặt, kể tên như Đoàn Minh Phượng, Phạm Thị Hoài, Lê Minh Hà. (Đức), Đoàn Ánh Thuận (Thuận), Linđa Lê, Trần Minh Huy.

(Pháp), Lý Lan, Phan Việt, Diễm Thúy. Bộ phận này cũng tương tự như dòng văn học trong nước: sinh ra trước và sau thời chiến. Tiếp cận với sau Đổi mới, có thể điểm qua những vườn ươm đầu với nghệ thuật vị nghệ thuật với tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài là một minh chứng,. Vượt thoát những rào cản của tư tưởng, những luật lệ tự tạo của định kiến, Thiên sứ đã trả lại bản thể cho cái muốn nói và cái cần nói, khi mà bối cảnh Đổi mới chưa kịp câu nệ giữa mối quan hệ chính trị và bình diện tri thức/ quyền lực.

Tuy vấp nhiều rào cản buổi đầu, nhưng phải thừa nhận rằng: “Ở Việt Nam, cách viết của Phạm Thị Hoài khiến đọc giả và những nhà phê bình hết lời ca ngợi và cũng lắm kẻ chê bai.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phân Tâm Học Trong Tiểu Thuyết Của Thuận Và Đoàn Minh Phượng" khám phá cách mà lý thuyết phân tâm học được áp dụng trong các tác phẩm của hai tác giả nổi bật. Bài viết phân tích sâu sắc các nhân vật và tâm lý của họ, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về động cơ và cảm xúc ẩn sâu bên trong. Những điểm chính trong tài liệu bao gồm việc làm rõ mối liên hệ giữa tâm lý con người và các tình huống trong tiểu thuyết, cũng như cách mà các tác giả thể hiện những xung đột nội tâm của nhân vật.

Đọc tài liệu này không chỉ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về phân tâm học trong văn học mà còn mở ra cơ hội để khám phá thêm các khía cạnh khác của văn học. Bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ văn học kiểu nhân vật thuộc thế hệ vứt đi trong tiểu thuyết chiến tranh của e hemingway, nơi phân tích các nhân vật trong bối cảnh chiến tranh, hoặc tìm hiểu về Luận văn thạc sĩ truyện cổ Grimm dưới góc nhìn phân tâm học, giúp bạn thấy được cách mà lý thuyết này được áp dụng trong các tác phẩm cổ điển. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về mối liên hệ giữa tâm lý học và văn học, từ đó làm phong phú thêm trải nghiệm đọc của bạn.