Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về phân quyền giữa cơ quan nhà nước ở trung ương với chính quyền địa phương Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực hiện các quy định pháp luật về phân quyền giữa cơ quan nhà nước ở trung ương với chính quyền địa phương cấp tỉnh ở tỉnh Bình Phước trên các lĩnh vực NSNN, đầu tư công và quản lý đất đai Chương 3: Quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường phân quyền giữa cơ quan nhà nước ở trung ương và chính quyền cấp tỉnh từ thực tiễn tỉnh Bình Phước 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ PHÂN QUYỀN GIỮA CƠ QUAN NHÀ NƢỚC Ở TRUNG ƢƠNG VÀ CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của phân quyền 1. Khái niệm phân quyền Lịch sử phát triển các nhà nước cho thấy không một quốc gia nào có thể tiến hành quản lý xã hội mà chỉ dựa vào bộ máy nhà nước ở trung ương. Là một tổ chức có khả năng tác động lên toàn bộ xã hội, Nhà nước (đại diện là cơ quan quản lý ở Trung ương) tập trung vào hoạch định những chính sách ở tầm vĩ mô, bao quát những diễn biến của các quan hệ xã hội ở quy mô toàn quốc.
Các chủ trương, biện pháp được đề ra ở tầm trung ương, với tính khái quát và trừu tượng khó có thể phản ánh hết được những điều kiện đặc thù của địa phương và khó dự liệu trước phương pháp tổ chức thực hiện ở mỗi địa bàn cụ thể. Hơn nữa, quản lý nhà nước thống nhất không đồng nghĩa với việc các địa phương phải sử dụng những biện pháp cách thức theo một khuôn mẫu thống nhất để triển khai một chính sách ở trung ương. Bằng hoạt động của mình, các cơ quan nhà nước ở địa phương chuyển tải các chính sách của trung ương đến với dân cư địa phương, cụ thể hóa các văn bản của cấp trên có tính tới hoàn cảnh, đặc điểm của địa phương đề ra biện pháp tổ chức linh hoạt, đa dạng để thực hiện một cách thống nhất những chủ trương, đường lối được hoạch định ở tầm trung ương. Để tiến hành hoạt động này, các cơ quan chính quyền địa phương phải được trao một khối lượng thẩm quyền tương ứng thông qua cơ chế phân quyền.
Như vậy phân quyền cho địa phương là một yếu tố đảm bảo tính hệ thống, liên tục trong hoạt động của nhà nước và góp phần vào thực hiện những nhiệm vụ chung của nhà nước. Phân quyền dẫn đến một hệ quả là thừa nhận tính độc lập của một chủ thể 8 trong một lĩnh vực nhất định. Tính độc lập của chính quyền địa phương thể hiện ở chỗ bên cạnh việc thực hiện và tổ chức thực hiện các quyết định của trung ương và cơ quan nhà nước cấp trên, địa phương còn được quyền giải quyết vấn đề có tính địa phương phát sinh tại địa bàn quản lý của mình. Những vấn đề của địa phương có thể được quyết định bởi chính dân cư địa phương hoặc bởi cơ quan đại diện cho dân cư tại địa bàn.
Trong cả hai trường hợp, người dân đều có cơ hội tham gia hoạt động quản lý nhà nước một cách trực tiếp thông qua việc thực hiện các quyền chính trị của mình. Như vậy, phân quyền chính là một hình thức tổ chức và thu hút nhân dân tham gia việc quản lý các công việc của địa phương mình và rộng hơn là quản lý nhà nước và xã hội. Vì lẽ đó, phân quyền là một trong những biện pháp thực hiện hóa giá trị dân chủ trong tổ chức quyền lực nhà nước và trở nên thực sự cần thiết dưới góc độ dân chủ. Tuy vậy, về phân quyền cũng có cách hiểu khác nhau: Theo từ điển tiếng Việt, “phân quyền là phân chia quyền hành chứ không tập trung” [29,tr.
Đây cũng là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong khoa học tổ chức, phản ánh cách thức người đứng đầu tổ chức sử dụng quyền lực để tiến hành phân chia công việc, trao nhiệm vụ, quyền hạn cho các phòng ban, bộ phận trong một hệ thống cơ cấu tổ chức thứ bậc. Phân quyền giúp cho người đứng đầu tổ chức tập trung vào sứ mệnh “lái thuyền” đồng thời khuyến khích nhân viên cấp dưới chủ động, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ nhằm giúp cho tổ chức đạt được mục tiêu. Phân quyền cũng là xu hướng tất yếu được áp dụng trong vận hành bộ máy nhà nước vốn có quy mô hoạt động bao trùm mọi ngành nghề và toàn bộ lãnh thổ quốc gia. Đặc biệt, hiện nay, cùng với xu hướng dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội và xu hướng quốc tế hóa, các quốc gia kém phát triển và các quốc gia đang phát triển đang tiến hành cải cách bộ máy nhà nước theo hướng 9 trao quyền nhiều hơn cho chính quyền địa phương và cơ quan cấp dưới theo hình mẫu thành công ở các quốc gia phát triển.
Hiện nay, trong nhiều tài liệu khoa học, thuật ngữ “phân quyền” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong tiếng Anh là “Decentralization”, khi dịch sang tiếng Việt được sử dụng bằng nhiều thuật ngữ khác nhau: phân quyền, phân cấp, phi tập trung hóa. Trong từ điển Giải thích của Đại học Oxford, phân quyền có một số nghĩa như sau [28, tr.301]: Phân quyền là chuyển giao quyền từ chính phủ trung ương đến chính quyền địa phương các cấp các quyền hạn nhất định (phân quyền quyết định kế hoạch hóa); Phân quyền là chuyển một bộ phận (Cục, vụ) từ một tổ chức tập trung đến đặt ở những vị trí khác trên phạm vi lãnh thổ quốc gia. Theo Từ điển luật học, phân quyền là một hệ thống tổ chức nền hành chính theo cách giao cho một cộng đồng dân cư (đơn vị hành chính) gọi là phân quyền theo lãnh thổ hay cho một công sở (phân quyền kỹ thuật hay phân quyền theo chức năng) quyền tự quản lý với những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định, có tư cách pháp nhân và những nguồn thu dưới sự kiểm soát của Nhà nước chủ yếu về mặt pháp chế. Hội đồng tỉnh, Hội đồng xã là những cơ quan được phân quyền theo lãnh thổ [25,tr.TS Nguyễn Cửu Việt, nếu hiểu đầy đủ thì thuật ngữ “phân quyền” có ba nghĩa [32]: Một là, học thuyết phân quyền - phân chia quyền lực (nguyên tắc phân chia ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp); Hai là, phân quyền lãnh thổ; Ba là, phân quyền theo chiều ngang hay phân quyền theo chức năng cho các cơ quan và nhân viên.
10 Trong phạm vi nghiên cứu, Luận văn phân tích về phân quyền giữa trung ương và địa phương (chính quyền cấp tỉnh) từ thực tiễn tỉnh Bình Phước trên một số lĩnh vực; do đó, Luận văn sẽ tập trung làm rõ lý luận về phân quyền theo lãnh thổ, tức là nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực theo cấp lãnh thổ, theo đó nhà nước trung ương chuyển giao (bằng Hiến pháp và luật) cho các hội đồng dân biểu địa phương những quyền hạn độc lập và toàn vẹn (bao gồm cả phương tiện vật chất, tài chính, nhân sự.), trong phạm vi đó nó thực hiện một cách chủ động, độc lập và tự chịu trách nhiệm. Hiểu theo nghĩa Tây Âu, phân quyền trong quan hệ với địa phương là chế độ tự quản địa phương [32]. Năm 1985, Hội đồng châu Âu đã thông qua một công ước về quyền tự chủ của địa phương. Đây là văn bản duy nhất có nội dung là những nguyên tắc chung về phân quyền, có một số các nguyên tắc tiêu biểu như: 1.
Quyền tự chủ của địa phương phải được pháp luật các quốc gia thừa nhận, tốt nhất là thừa nhận trong hiến pháp 2. Phân quyền được hiểu là quyền và khả năng thực tế của chính quyền địa phương trong việc quản lý một phần lớn những nhiệm vụ công theo khuôn khổ của pháp luật và nhằm phục vụ lợi ích của người dân 3. Quyền tự chủ của địa phương được thực hiện thông qua các hội đồng do dân bầu theo phương thức phổ thông đầu phiếu 4. Viêc thực hiện các nhiệm vụ quản lý tốt nhất phải được giao cho cơ quan quyền lực gần dân nhất có thể 5.
Thẩm quyền đã được chuyển giao cho chính quyền địa phương chỉ có thể bị xem xét lại bởi một cơ quan quyền lực cấp quốc gia trong khuôn khổ của pháp luật 6. Chính quyền địa phương có quyền tự xác định cơ cấu tổ chức hành chính của mình 11 7. Quy chế của các dân biểu địa phương phải đảm bảo cho họ quyền tự do thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của đại biểu dân cư 8. Trong khuôn khổ các chính sách kinh tế quốc gia, các chính quyền địa phương có quyền có những nguồn tài chính riêng và để cần thiết được tự do sử dụng những nguồn tài chính này để thực hiện thẩm quyền được giao.
Ở Việt Nam, trong một thời gian dài, thuật ngữ “phân quyền” không được sử dụng trong văn bản pháp luật, thay vào đó là thuật ngữ “phân cấp”, “phân cấp quản lý nhà nước”. Chỉ đến khi Quốc hội ban hành Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, thuật ngữ “phân quyền” cho chính quyền địa phương mới được sử dụng một cách chính thức trong văn bản pháp luật. Theo quy định của pháp luật Việt Nam “phân quyền”, “phân cấp” đều là hình thức để “phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương” nhưng về mặt bản chất, “phân quyền” và “phân cấp” không giống nhau [22]. Căn cứ vào điều 12, điều 13, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, có thể thấy phân quyền và phân cấp có một số điểm khác biệt như sau: STT Tiêu chí Phân quyền Phân cấp Chủ thể tiến Cơ quan nhà nước trung ương và cơ quan 1 Quốc hội hành nhà nước địa phương Hình thức Hiến pháp, Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan 2 pháp lý Luật phân cấp Thấp hơn do cơ quan phân cấp tùy tình hình thực hiện của cơ quan được phân cấp 3 Tính ổn định Cao có thể ra quyết định tiếp tục phân cấp hoặc thu hồi việc phân cấp 12 Sau khi Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 được ban hành, mặc dù chính quyền địa phương ở Việt Nam được “phân quyền”; tuy nhiên, xét về mặt thực tiễn, “phân quyền” cho chính quyền địa phương ở Việt Nam chưa tiệm cận được với ý nghĩa “phân quyền” - quyền tự chủ địa phương hay chính quyền địa phương tự quản theo nghĩa Tây Âu hay theo Công ước về quyền tự chủ của chính quyền địa phương của Hội đồng châu Âu như ở nhiều quốc gia phát triển (Anh, Đức, Mỹ, Pháp…).