Chương 1: Giới thiệu. Chương này của báo cáo bao gồm giới thiệu về đề tài, mục tiêu và nội dung của đề tài, giới hạn đề tài cũng như trình bày sơ lược cấu trúc của báo cáo. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan. Chương này của báo cáo bao gồm trình bày về những cơ sở lý thuyết quan trọng cho việc hiện thực đề tài cũng như trình bày về các nghiên cứu đã được thực hiện trên thế giới liên quan đến đề tài.
Chương 3: Phương pháp đề xuất để phân loại ảnh ung thư. Chương này của báo cáo trình bày về yêu cầu của đề tài và các phương pháp đề xuất dùng để phân loại ảnh ung thư. Chương 4: Hiện thực và đánh giá kết quả. Chương này của báo cáo bao gồm trình bày về quá trình thực hiện các phương pháp đề xuất và kết quả của nó, sau đó so sánh và đánh giá kết quả hiện thực giữa các phương pháp đề xuất với nhau và với các phương pháp khác.
Chương 5: Kết luận. Chương này của báo cáo trình bày về kết quả đạt được, đưa ra ưu và nhược điểm của các phương pháp đề xuất và hướng mở rộng trong tương lai. Trang 3 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Ảnh ung thư Nghiên cứu ung thư thường yêu cầu nghiên cứu các hình ảnh mà trong nhiều trường hợp cần sử dụng một lượng nhỏ chất phóng xạ.
Các ảnh chụp như ảnh chụp XQuang, ảnh chụp cắt lớp vi tính (CT), ảnh chụp cộng hưởng từ (MRI), ảnh chụp cắt lớp phát xạ positron (PET), ảnh chụp cắt lớp vi tính phát xạ đơn photon (SPECT) là rất quan trọng trong việc đưa ra các quyết định lâm sàng, chẩn đoán, điều trị và theo dõi. Đối với dạng bài toán phân loại ảnh ung thư dựa trên phương pháp học sâu, ảnh chụp CT thường hữu ích hơn so với các loại còn lại do nó có độ nhiễu thấp hơn và rõ ràng hơn. Dưới đây là ảnh chụp CT phổi của người bị ung thư. 1: Ảnh CT phổi của người bị ung thư [1] Mỗi loại ung thư, các bác sĩ sẽ có các phương pháp xét nghiệm, chẩn đoán và xử lý khác nhau nhằm tối ưu lượng tài nguyên cần dùng, giảm thiểu tối đa cảm giác đau đớn, tâm lý sợ hãi, tránh gây lây nhiễm những độc tố không cần thiết lên bệnh nhân, ví dụ như phương pháp xét nghiệm lâm sàng, giải phẫu bệnh… Trang 4 Riêng lĩnh vực ung thư da, dụng cụ chuyên biệt được các bác sĩ da liễu tin dùng để chẩn đoán các tổn thương được gọi là kính soi da (dermatoscope).
Các bác sĩ thông qua kính soi da sẽ thấy được những hình ảnh da bị tổn thương bao gồm có hoặc không thay đổi sắc tố da, hỗ trợ cho việc chẩn đoán bằng mắt thường, qua đó bác sĩ có thể phân biệt được tổn thương đó lành tính hay ác tính để có phương pháp điều trị thích hợp.2 là một ví dụ minh họa cho ảnh soi da thu được từ kính soi da: Hình 2. 2: Ảnh soi da ung thư da biểu mô tế bào đáy [8] 2.2 Mạng nơ-ron tích chập (Convolutional neural network) Trong thị giác máy tính, người ta rất quan tâm và chú trọng đến cấu trúc không gian của ảnh cũng như các quan hệ phức tạp của một điểm ảnh và những điểm xung quanh nó. Với mạng MLP, ta nhận thấy các nút đầu vào (đặc trưng) tương ứng với từng điểm ảnh của một ảnh. Nếu thay đổi các vị trí của các nút này sẽ không ảnh hưởng đến kết quả của tầng sau.
Tương tự như vậy, các nút ở các tầng ẩn cũng không thay đổi giá trị nếu ta thay đổi vị trí của các đặc trưng ở tầng trước đó. Ta nhận thấy mạng MLP không quan tâm đến thứ tự của các đặc trưng cũng như vị trí của nó, điều này làm mất đi cấu trúc không gian của đặc trưng đầu vào. Một điểm yếu nữa của mạng MLP đó là số lượng tính toán và tham số, giả sử ta có một tấm ảnh màu có kích thước là 224x224x3, vậy đầu vào của mạng là vector có 150528 chiều, cùng với một tầng ẩn có khoảng 10000 chiều ẩn, ta ước tính được số lượng tham số sẽ khoảng 1 tỷ 500 triệu tham số, nhưng đó là trường hợp tầng ẩn có số Trang 5 nút ẩn ít như ta nói, thực tế việc số nút ẩn cần thiết cho một tấm hình với kích thước cỡ đó sẽ lớn hơn rất nhiều. Vì hai lý do trên, mà ta cần một mạng có kiến trúc hiệu quả hơn cho thị giác máy tính, một mạng có thể vừa học được các cấu trúc không gian của đặc trưng, vừa có số lượng tham số và tính toán phù hợp.
Mạng nơ ron tích chập (viết tắt là CNN) được thiết kế dựa trên những thực tiễn và kinh nghiệm của con người khi quan sát tấm ảnh. Nó dựa trên hai quy tắc chính: Tính bất biến tịnh tiến (translation invariance): Hệ thống có cùng phản ứng với cùng một vật thể, bất kể nó xuất hiện ở đâu trong ảnh. Nghĩa là vị trí của vật thể xuất hiện trong ảnh không quan trọng, chỉ cần có vật thể đó là mô hình sẽ có phản ứng. Tính cục bộ (localization): Hệ thống tập trung vào các khu vực cục bộ và không quan tâm những gì ở xa hơn trong ảnh.
Từ hai quy tắc trên, ta xây dựng được được một ràng buộc mới mà nó có liên quan đến một phép toán, đó là phép tích chập. Ta thay thế các tầng kết nối đầy đủ bằng các tầng tích chập. Việc này giúp mạng giảm đi lượng tham số và tính toán đi đáng kể, đổi lại các đặc trưng sẽ mang tính bất biến tịnh tiến và các tầng chỉ nhận thông tin cục bộ.1 Thuật ngữ trong CNN Hình 2.4 biểu diễn một phép tích chập hai chiều, trong đó: Đơn vị (Unit): Là giá trị của một điểm nằm trên khối ma trận đầu vào hoặc đầu ra ở mỗi tầng của mạng CNN. Vùng tiếp nhận (Receptive Field): Là một vùng các đơn vị trên ma trận đầu vào sẽ được nhân tích chập với bộ lọc.
Ánh xạ đặc trưng (Feature Map): Là ma trận đầu ra khi áp dụng phép tích chập giữa bộ lọc với các vùng tiếp nhận. 2: Phép tích chập của một ma trận hai chiều Khi xây dựng các mô hình học sâu để giải quyết các bài toán, người huấn luyện cần biết rõ kích thước đầu ra và đầu vào của mỗi tầng sau khi đi qua các bộ lọc tích chập.1) thường được sử dụng để độ dài ánh xạ đặc trưng theo một chiều được biểu diễn như sau: � + 2� − � �= + 1 (2.1) � Với I là độ dài kích thước đầu vào, P là số lượng đệm (Padding), S là số sải bước(Stride), F là kích thước bộ lọc. Lưu ý số đệm bằng nhau ở cả hai phía, nếu chiều rộng thì đệm cột trái bằng cột phải, nếu chiều dài thì đệm hàng trên bằng hàng dưới.5 là minh họa tiêu biểu cho một kiến trúc thường thấy ở một mạng CNN Hình 2. 3: Minh họa cấu trúc thường thấy của một mạng CNN [3] Trang 7 2.2 Tầng tích chập (Convolution layer) Trong xử lý ảnh, các phép tích chập giúp ta trích xuất các đặc trưng ảnh.
Tương tự như vậy, các tầng tích chập trong mạng nơ ron tích chập cũng trích xuất các đặc trưng của đầu vào để có thể đưa ra dự đoán. Điểm đặc biệt ở đây là mạng sẽ học các bộ lọc này. Người huấn luyện không phải gán trực tiếp các giá trị cho bộ lọc. Mạng sẽ học để đưa ra các giá trị phù hợp cho bộ lọc nhằm tạo ra các bộ lọc trích xuất các đặc trưng mà sau khi tổng hợp tất cả các đặc trưng đó lại, mạng sẽ biết được đầu vào (ảnh) có chứa thông tin gì để đưa ra dự đoán.
Ở các tầng thấp nhất, mạng sẽ học được các đặc trưng căn bản như cạnh dọc, cạnh ngang,… càng về sâu thì các đặc trưng học được sẽ càng phức tạp và ở những tầng cuối cùng, các đặc trưng học được sẽ là đặc trưng của các vật thể hay đối tượng mà ta huấn luyện cho mạng. Phép tích chập trong mạng tích chập được thực hiện từ trái sang phải, từ trên xuống dưới.6 dưới đây minh họa cho cách phép tích chập được thực hiện: Hình 2. 4: Minh họa phép tích chập được thực hiện trong mạng tích chập [4] Một lưu ý quan trọng là dù được gọi là mạng tích chập, phép tính được thực hiện trong tầng tích chập là phép tương quan chéo (cross-correlation). Phép tương quan chéo cũng có tính chất tương tự như phép tích chập.
Phép tương quan chéo có một chút khác biệt với phép tích chập.7 bên dưới minh họa cho sự khác nhau giữa phép tương quan chéo và tích chập. Việc sử dụng phép tương quan chéo nhằm đơn giản việc tính toán cũng như tăng tốc độ tính toán. 5: Sự khác nhau giữa tương quan chéo và tích chập Tiếp theo, ta đến với các kỹ thuật điều chỉnh đầu ra trong mạng CNN. Hai kỹ thuật phổ biến nhất thường thấy là đệm (padding) và sải bước (stride).3 Đệm (padding) Xét phép tích chập hai chiều trong mạng CNN, do chiều dài và chiều rộng của bộ lọc thường lớn hơn 1 nên kích thước ma trận đầu ra sẽ nhỏ hơn ma trận đầu vào.
Để có thể giữ lại các thông tin có ích ở viền của ảnh gốc, cũng như giữ nguyên kích thước của đầu vào, đệm là công cụ để giải quyết việc này. Đệm là việc chèn thêm các điểm ảnh xung quanh đường biên của ảnh đầu vào nhằm làm tăng kích thước của ảnh. Thường các điểm ảnh thêm vào có giá trị là 0. Ta gọi ph là hàng đệm chèn thêm vào cạnh trên và cạnh dưới, pw là cột đệm chèn thêm vào cạnh trái và cạnh phải.
Thông thường ta sử dụng các bộ lọc vuông có kích thước hạt nhân là lẻ như 1x1, 3x3, 5x5,… Việc sử dụng có bộ lọc vuông có kích thước là lẻ sẽ dễ hơn trong việc giữ nguyên kích thước đầu vào, khi đó chỉ cần thêm vào cùng số hàng đệm cho cạnh trên và cạnh dưới, cùng số cột đệm cho cạnh trái và cạnh phải. Ngoài ra, việc dùng bộ lọc vuông có kích thước lẻ cho chúng ta thêm một thông tin hữu ích, đó là mỗi đơn vị trên ma trận ánh xạ đặc có vị trí là tâm vùng tiếp nhận.8 minh họa phép tích chập khi thực hiện đệm đầu vào và kết quả quả đầu sau khi thực hiện phép tích chập. 6: Minh họa phép tích chập khi thực hiện đệm 2.