Đặt vấn đề Acid gamma polyglutamic (γ-PGA) là một polyme tự nhiên có các tính chất sinh hóa học quan trọng như có khả năng hòa tan trong nước, phân hủy sinh học, không độc và ăn được. γ-PGA được ứng dụng rộng rãi trong ngành công nghệ thực phẩm, dược phẩm sinh học, y tế, mỹ phẩm, xử lý môi trường và các lĩnh vực khác (Shih et al. γ-PGA được tổng hợp từ một số loài vi khuẩn (tất cả vi khuẩn gram dương), trong đó chủ yếu là chủng vi khuẩn Bacillus được phân lập từ sản phẩm lên men truyền thống như: vi khuẩn Bacillus subtilis (Bacillus subtilis Natto) được phân lập từ natto ở Nhật Bản (Shih et al. 2001), Thua-nao từ Thái Lan, chungkookjang từ Hàn Quốc.
Bên cạnh các sản phẩm lên men kể trên, một loại sản phẩm lên men truyền thống đang được quan tâm tới khả năng có thể phân lập được các chủng Bacillus có hoạt lực sinh γ-PGA cao đó là Boza. Boza được biết đến là một loại đồ uống lên men truyền thống được làm từ lúa mì hoặc kê, có độ nhớt và nồng độ cồn thấp, thường là từ 0,5% – 1 %, có vị ngọt và chua, đây là một sản phẩm lành tính và giàu dinh dưỡng. Trong boza có chứa hỗn hợp vi khuẩn lactic và nấm men có lợi cho sức khỏe như: Lactobacillus brevis subsp. lactis, Leuconostoc citreum, Lactobacillus brevis, Lactobacillus plantarum, Lactobacillus paraplantarum, Enterococcus faecium, Lactobacillus graminis, Leuconostoc mesenteroides, Pediococcus pentosaceus, Lactobacillus rhamnosus, Pediococcus sp.
và Lactobacillus paracasei, Bacillus subtilis (Kivanc et al. Hệ vi sinh vật trong Boza lên n 2 men tạo các sản phẩm giàu dinh dưỡng, trong đó chủng vi khuẩn Bacillus có khả năng tổng hợp γ-PGA. Với nhu cầu ngày càng cao về γ-PGA, các nhà nghiên cứu không ngừng tìm kiếm và chọn lọc ra các chủng vi khuẩn có khả năng sinh tổng hợp γ-PGA với hiệu suất cao từ tự nhiên. Xuất phát từ vấn đề trên, để phân lập và đánh giá khả năng sinh tổng hợp γ-PGA của vi khuẩn Bacillus trong đồ uống Boza, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phân lập vi khuẩn có khả năng sinh tổng hợp gamma-polyglutamic acid từ đồ uống Boza’’.
Mục đích nghiên cứu - Phân lập các chủng vi khuẩn có khả năng sinh tổng hợp γ-PGA từ Boza. - Nghiên cứu điều kiện: pH, thời gian, môi trường nuôi cấy thích hợp để vi khuẩn tổng hợp γ-PGA cao nhất. Yêu cầu - Phân lập được các chủng vi khuẩn Bacillus từ Boza - Đánh giá được ảnh hưởng của pH, thời gian, môi trường nuôi cấy tới khả năng sinh tổng hợp γ-PGA của vi khuẩn. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Phân lập được các chủng vi khuẩn có khả năng sinh γ-PGA từ Boza, đánh giá được các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình sinh tổng hợp γ-PGA của vi khuẩn. Ý nghĩa thực tiễn - Giúp sinh viên rèn luyện thành thạo các kỹ thuật vi sinh như: phân lập, nghiên cứu hình thái và động thái sinh tổng hợp γ-PGA của vi sinh vật. - Kết quả phân lập và nghiên cứu điều kiện lên men có thể ứng dụng trong sản xuất γ-PGA sử dụng trong thực tế. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN 2.
Gamma-Polyglutamic acid 2. Công thức phân tử Acid gamma-polyglutamic (γ-PGA) còn được gọi là gamma polyglutamate. γ-PGA được tạo thành bởi đồng phân D-glutamic, L- glutamic hoặc cả hai đồng phân nối với nhau bởi liên kết amin giữa nhóm α- amino và γ-carboxyl tạo thành liên kết γ-peptide (Ho et al.1: Công thức cấu tạo của gamma-polyglutamic acid Tỷ lệ L-D-glutamate phụ thuộc vào nhiều yếu tố: loài, điều kiện nuôi cấy. γ-PGA của chủng Bacillus subtilis (Natto) có tỷ lệ 50-80% là dạng D- glutamate và 20-50% là L-glutamate (Kubota et al.
Nhiều yếu tố cũng ảnh hưởng đến mức độ trùng hợp của phân tử γ-PGA. Nồng độ của Mn2+ có thể ảnh hưởng đến cấu hình của axit glutamic trong γ-PGA được tổng hợp bởi Bacillus subtilis. Khi môi trường có nồng độ Mn2+ cao thì trong γ-PGA có đồng phân dạng D-glutamate >80%, môi trường có nồng độ Mn2+ thấp thì γ- PGA có đồng phân dạng D-glutamate 40% (Thorne et al. Tính chất vật lý Bảng 2.
Tính chất vật lý, hóa học của gamma-polyglutamic acid Công thức phân tử (C5 H7 NO3) n Công thức cấu tạo 50 kDa - 2000 kDa tùy mức độ trùng hợp Trọng lượng phân tử khác nhau - Gamma-polyglutamic acid (γ-PGA) Tên gọi khác nhau - Poly [imino [1-carboxy-4-oxo-1, 4-butanediyl]] - Là một polymer tự nhiên - Tinh thể màu trắng, không màu, không mùi, không vị Tính chất vật lí - có khả năng phân hủy sinh học - Hòa tan trong nước - Không độc và có thể ăn được - Có khả năng dẫn diện - Nhận biết γ-PGA bằng xanh methylene Tính chất hóa học - không bị enzyme protease phân hủy - Có phản ứng được với kim loại để tạo muối n 5 2. Ứng dụng của gamma-polyglutamic acid Ngày nay con người có nhu cầu hướng tới sử dụng các hợp chất có nguồn gốc từ tự nhiên do nó có ưu điểm là an toàn với sức khỏe và thân thiện với môi trường và γ-PGA là một trong số đó. γ-PGA đã được nghiên cứu nhắm tối ưu hóa các phương pháp sản xuất với quy trình ít tốn kém, nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm và sử dụng nguồn cơ chất đơn giản, dễ kiếm để có thể sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp thực phẩm, hóa mỹ phẩm, y học, xử lý nước thải, sản phẩm vệ sinh, nông nghiệp, chăn nuôi và các lĩnh vực khác. Ứng dụng trong y học γ-PGA được sử dụng trong liệu pháp gen, thuốc điều trị ung thư và các sản phẩm da nhân tạo để chữa bỏng, γ-PGA còn được dùng tạo ra các màng tổng hợp để chống lại sự bám hút chặt giữa tế bào bình thường với lớp mô bị tổn thương do tai nạn hay quá trình phẫu thuật.( Furuta et al.
a) Chất vận chuyển thuốc γ-PGA được quan tâm về khả năng vận chuyển thuốc do có tính tương thích sinh học và phân hủy sinh học. Trong chuỗi peptide của γ-PGA có nhóm carboxyl tạo điểm gắn cho hóa trị liệu, do đó khiến thuốc hòa tan nhiều hơn và dễ dàng kiểm soát hơn. Liên kết γ-PGA và thuốc có thể xâm nhập vào vị trí khối u và giải phóng thuốc, sau đó γ-PGA bị phân hủy thành acid glutamic có thể thâm nhập vào quá trình trao đổi chất của tế bào và được bài tiết qua thận (Li et al, 1998). Enzym là chất xúc tác sinh học thường dễ bị ảnh hưởng bởi các tác nhân môi trường trong đó có các tia phóng xạ (Dengyi et al.,1993; Saha et al.
Để giảm thiểu các tác nhân và nâng cao hiệu quả sử dụng enzym. Enzym thường được kết hợp với các chất gắn, hay các hợp chất bảo vệ khác nhau để tránh khỏi các tác nhân gây ảnh hưởng tới hoạt tính enzyme. Mỗi loại n 6 hợp chất dùng để gắn enzym đều có những ưu và nhược điểm riêng (Dengyi et al.,1993; Saha et al. Hiện nay γ-PGA đang được nghiên cứu để gắn vào enzym do chúng có ưu điểm là có thể phân hủy sinh học, không ảnh hưởng tới môi trường)(Miyachi et al.,1996; Sakamoto et al.
Ở Việt Nam chưa có nhiều các nghiên cứu về ảnh hưởng của các tia bức xạ đến enzym, cũng như vai trò của γ-PGA trong việc bảo vệ hoạt tính enzym chống lại các tác nhân do các tia bức xạ gây nên. b) Chất kết dính sinh học Chất kết dính sinh học được sử dụng trong việc cầm máu, gắn kết các vết rò rỉ khí ở phổi, chống lại sự bám dính giữa tế bào bình thường với lớp mô bị tổn thương do tai nạn hay quá trình phẫu thuật. Các chất kết dính phẫu thuật hiện tại đang được sử dụng như fibrin nhưng có độ bám dính mô kém. Otani và cộng sự 1999 đã cho rằng liên kết giữa gelatin và γ-PGA có thể thay thế cho các chất kết dính có nguồn gốc fibrin và có hiệu quả hơn trong việc gắn kết vết rò rỉ trên phổi so với chất kết dính có nguồn ngốc từ fibrin (Otani et al.
c) Chất mang gen chuyển Dekie và cộng sự năm 2000 đã chỉ ra rằng liên kết giữa DNA và γ-PGA tương đối ổn định đối với albumin huyết thanh. γ-PGA dễ dàng tạo ra các liên kết với DNA, kết quả là điện tích bề mặt và kích thước của DNA giảm như vậy có thể bảo vệ DNA không bị phân hủy bởi enzyme Dnase. γ-PGA mang gen chuyển giúp cho DNA không bị phân hủy và tăng hiệu quả chuyển gene (Dekie et al. d) Chất phụ tá vaccine Năm 2006, Sung và cộng sự đã đánh giá rằng γ-PGA như một chất phụ tá cho vaccine, người ta đã phát hiện ra tổ hợp các thành phần gây miễn dịch chứa γ-PGA cho 1 đáp ứng miễn dịch chống lại S.
epiderrnidis, staphylococcus và các loài liên quan. γ-PGA được chỉ ra có khả năng kích n 7 thích cơ thể sinh kháng thể cao thậm trí khi được sử dụng với một kháng nguyên có tính gây miễn dịch yếu. Các phân tử γ-PGA có khả năng phân hủy sinh học là các thể mang vận chuyển rất tốt vaccine tới các khối u, chúng có thể phát tán các protein kháng nguyên tới các tế bào trình diện kháng nguyên (APCs) và đưa ra các đáp ứng miễn dịch hiệu lực dựa trên các kháng nguyên đặc hiệu của tế bào lympho T. Kháng nguyên được chấp nhận bởi các tế bào trình diện kháng nguyên còn được tăng cường bằng sự liên kết với các phân tử polyme (Sung et al.
Vaccine này có ưu điểm là khi tiêm dưới da không tạo vết sưng tại vị trí tiêm như các vaccine thông thường khác (Uto et al. Ứng dụng trong ngành công nghệ thực phẩm Các nhà nghiên cứu đã chứng minh được γ-PGA có thể ứng dụng làm chất bảo quản đông lạnh mà không gây ảnh hưởng tới sức khỏe do đặc tính của γ-PGA là một polyme sinh học không gây độc cho người, γ- PGA còn sử dụng làm chất ổn định mà không làm ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm cũng như tới sức khỏe con người. Năm 2000, Sakai và cộng sự cho rằng việc bổ sung PGA vào đồ uống để làm giảm vị đắng của một số đồ uống (chứa acid amin, peptide, quinine, cafeine…),và làm tăng vị ngon của đồ uống (Sakai et al. Ngoài ra, khi bổ sung γ-PGA còn có khả năng liên kết với một số ion hóa trị 2 như Mn2+ ( ổn định thần kinh), Cu2+ (thúc đẩy sự hấp thu và sử dụng sắt để tạo thành hemoglobin và hồng cầu), Mg2+ (tác dụng ức chế các phản ứng thần kinh và cơ)…tạo muối tan giúp cơ thể tăng tốc độ hấp thụ các chất và khoáng chất trong ruột non giúp cho cơ thể hấp thụ tối các chất dinh dưỡng cung cấp khoáng chất cho cơ thể (Tanimoto et al.