1 MỤC LỤC MỤC LỤC. Lý do chọn đề tài. Nhiệm vụ nghiên cứu. Đối tƣợng nghiên cứu.
Chi Giác đế (Goniothalamus ( Blume) Hook. Đặc điểm thực vật của một số loài thuộc chi Goniothalamus (Blume) Hook. Hoạt tính sinh học các hợp chất styryl lacton. Cây nghiên cứu.
30 Luận văn thạc sĩ Khoa học PHƢƠNG PHÁP VÀ THỰC NGHIỆM. Phƣơng pháp nghiên cứu. Hoá chất, dụng cụ và thiết bị. Nghiên cứu các hợp chất.
34 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN. Phân lập các hợp chất. Xác định cấu trúc hợp chất A. Xác định cấu trúc hợp chất B.
59 TÀI LIỆU THAM KHẢO. Lý do chọn đề tài Việt Nam nằm ở vùng trung tâm Đông Nam Á hàng năm có lƣợng mƣa và nhiệt độ trung bình tƣơng đối cao. Với khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng, ẩm đã cho rừng Việt Nam một hệ thực vật đa dạng và phong phú. Theo số liệu thống kê gần đây hệ thực vật Việt Nam có trên 10.000 loài [3], [7], trong đó có khoảng 3.200 loài cây đƣợc sử dụng trong y học dân tộc và 600 loài cây cho tinh dầu [5].
Đây là nguồn tài nguyên thiên nhiên rất quý báu của đất nƣớc có tác dụng lớn đối với đời sống và sức khỏe của con ngƣời. Từ trƣớc đến nay trên thế giới các hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của con Luận văn thạc sĩ Khoa học ngƣời. Các hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học đựơc dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp dƣợc phẩm làm thuốc chữa bệnh, công nghiệp thực phẩm, hƣơng liệu và mỹ phẩm. Thảo dƣợc là nguồn nguyên liệu trực tiếp hoặc là những chất dẫn đƣờng để tìm kiếm các loại biệt dƣợc mới.
Theo số liệu thống kê cho thấy có khoảng trên 60% các loại thuốc đang đƣợc lƣu hành hiện nay hoặc đang trong giai đoạn thử nghiệm có nguồn gốc từ các hợp chất thiên nhiên [5]. Chi điển hình của họ nay là Annona. Một số loài đƣợc trồng làm cây cảnh, đặc biệt là Polythia longifolia var. Các loại cây thân gỗ còn dùng làm củi.
Một số loài có qủa lớn, nhiều thịt ăn đƣợc bao gồm các loài của chi Annona (na, na Nam Mỹ, mãng cầu xiêm) hay chi Asimina (đu đủ Mỹ) hoặc chi Rollinia [2]. Bên cạnh đó, một số loài nhƣ Hoàng lan (Cananga odorata) còn chứa tinh dầu thơm và đƣợc sử dụng trong sản xuất nƣớc hoa hay đồ gia vị. Vỏ 3 cây, lá và rễ của một số loài đƣợc sử dụng trong y học dân gian chữa bệnh nhiễm trùng, bệnh ho, bệnh gan, bệnh vàng da do gan, bệnh tiêu chảy. Các nghiên cứu dƣợc lý đã tìm thấy khả năng kháng nấm, kháng khuẩn và đặc biệt là khả năng sử dụng trong hóa học trị liệu của một số thành phần hóa học của lá và vỏ cây [21].
Mặc dù các cây họ Na (Annonaceae) có giá trị kinh tế cao cũng nhƣ có các hoạt tính sinh học quý đƣợc sử dụng rộng rãi trong dân gian, song việc nghiên cứu về thành phần hoá học của nó chƣa đƣợc tiến hành nhiều ở Việt Nam. Chi Goniothalamus là một trong những chi quan trọng của họ Na (Annonaceae), với khoảng 80 loài, phân bố rộng rãi ở châu Á và Australia, đặc biệt ở Đông Nam Á nhƣ Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Campuchia, Lào và Việt Nam. Một số loài thuộc chi này dùng để làm thuốc chữa bệnh về cơ, chấn thƣơng, thần kinh toạ, viêm khớp, kháng viêm và khả năng chống khối Luận văn thạc sĩ Khoa học u. Chính vì vậy chúng tôi chọn đề tài: ―Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất từ lá cây giác đế miên (Goniothalamus tamirensis Pierre ex & Gagn.) ở Việt Nam” từ đó góp phần xác định thành phần hoá học của các hợp chất và tìm ra nguồn nguyên liệu cho ngành hoá dƣợc.
Nhiệm vụ nghiên cứu Trong luận văn này, chúng tôi có các nhiệm vụ: - Chiết chọn lọc với các dung môi thích hợp để thu đƣợc hỗn hợp các hợp chất từ lá cây giác đế miên (Goniothalamus tamirensis Pierre ex & Gagn). - Phân lập và xác định cấu trúc hợp chất từ lá cây giác đế miên. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu là dịch chiết lá của lá cây giác đế miên (Goniothalamus tamirensis Pierre ex & Gagn.) thuộc họ Na (Annonaceae) ở Việt Nam. Luận văn thạc sĩ Khoa học 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.
Đặc điểm thực vật và phân bố Họ Na (Annonaceae) còn đƣợc gọi là họ Mãng cầu, là một họ thực vật có hoa bao gồm các loại cây thân gỗ, cây bụi hay dây leo. Đây là họ lớn nhất của bộ Mộc lan (Magnoliales), với khoảng 2.500 loài trong 120- 130 chi. Chi điển hình của họ nay là Annona (na, mãng cầu xiêm). Họ này sinh trƣởng chủ yếu ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và chỉ có một ít loài sinh sống ở vùng ôn đới (Asimini).
Theo Leboeuf và cộng sự có khoảng 900 loài ở Trung và Nam Mỹ, 450 loài ở Châu Phi và Madagascar, 950 loài ở Châu Á và Australia [2]. Luận văn Ở Việt Nam, thạc theo Nguyễn Tiến sĩ Khoa Bân [1], [2] đã xáchọc định họ Na có 26 chi, 201 loài. Thành phần hoá học Trong 2 thập kỉ trƣớc đây, 18 loài của họ Na (Chi Annona (8 loài): Annona cherimola, A. purpurea; chi Artabotrys (2 loài): Artabotrys hexaptalus, A.
uncinatus; chi Cananga (1 loài): Cananga odorata; chi Fissistigma (2 loài): Fissistigma glaucescens, F. oldhamii; chi Goniothalamus (1 loài): Goniothalamus amuyon; chi Polyalthia (2 loài): Polyalthia longifolia, P. longifolia Pendula; chi Rollinia (1 loài): Rollinia mucosa và chi Uvaria (1 loài): Uvariarufa) đã đƣợc nghiên cứu rất kĩ lƣỡng. Các nhà khoa học đã xác định cấu tạo hoá học và thử tác dụng sinh học của chúng (về tim mạch, độc tính và các hoạt tính dƣợc lý 6 khác).
Một số hợp chất có tiềm năng ứng dụng rất lớn để sản xuất thuốc chữa bệnh [23]. Mặc dù cây họ Na (Annonaceae) đã đƣợc khảo sát lần đầu tiên bởi Stehous năm 1855, nhƣng trong 2 thập kỉ trƣớc đây vẫn ít đƣợc tiến hành nghiên cứu, đến năm 1970, họ Na (Annonaceae) bắt đầu đƣợc nghiên cứu kỹ. Trong đó, phần lớn các đề tài nghiên cứu về alkaloit nhƣng cây họ Na (Annonaceae) cũng chứa một lƣợng lớn non- alkaloidal (không phải alkaloit) có nhiều hoạt tính kháng tế bào ung thƣ và chữa bệnh tim mạch rất quan trọng. Các chất không phải alkaloit của họ Na (Annonaceae) bao gồm kauran, lignan, acetogenin, steroit và các hợp chất thơm.
Ứng dụng của một số cây thuộc họ Na Vỏ, lá và rễ đƣợc dân gian dùng để chữa bệnh nhiễm trùng, bệnh ho, tiêu chảy. Các nghiên cứu dƣợc lí đã tìm thấy khả năng kháng nấm, kháng khuẩn Luận văn thạc sĩ Khoa học và đặc biệt là khả năng sử dụng trong hóa trị liệu của một số thành phần hóa học của lá và vỏ. Nghiên cứu bƣớc đầu về khả năng chữa bệnh ung thƣ ở Việt Nam thì trong đó cũng có một số lƣợng lớn cây họ Na *Chi Uvaria là một trong những chi lớn nhất của họ Na, ở Việt Nam có khoảng 16 loài - Kỳ hƣơng (Uvaria microcarpa) vỏ dùng làm thuốc chống tiêu hóa - Bù dẻ trƣờn (Uvaria microcarpa) Chứa hợp chất tonkinelin có hoạt tính chống ung thƣ bạch huyết *Chi Polyalthia – quần dầu, Việt Nam có 26 loài - Chùm rụm (Polyalthia intermedia), lá dùng chữa bệnh ho ra máu. - Ngấn chày (Polyalthia thorelie), vỏ dùng chữa đau dạ dày - Quần đầu vỏ xốp (Polyalthia suberosa), quả dùng để ăn.
- Quần đầu bảo chánh (Polyalthiaevecta)cành và lá dùng chữa sốt rét. *Chi desmos – hoa dẻ, ở việt nam có 5 loài -Dẻ lông đen (Desmoscochinensis) lá uống tăng sự tiết sữa 7 - Hoa dẻ thơm (Desmos chinensis ) nƣớc sắc từ hoa chữa bệnh khó đẻ, rễ khô chữa bệnh lị - Than ả mai (Desmospedunculosus) lá nấu nƣớc chữa bệnh mụn nhọt, chữa sốt. *Chi Fissistigma – Lãnh công, mật hƣơng, cách thƣ. Việt Nam có khoảng 23 loài.
- Dà dà (Fissistigma polyanthoides) chữa tiêu chảy. - Phát lãnh công (Fissistigma pêtloti). Dùng làm thuốc chữa sốt rét. *Chi Annona – Na , mảng cầu : Việt Nam có khoảng 4 loài.
- Na (Annona squamosa) Ăn quả chín, hạt độc dùng làm thuốc diệt côn trùng , lá nghiền nát chữa khối u, ung nhọt. - Mảng cầu xiêm (Annona muricata) Ăn quả chín, lá dùng làm da vị có tác dụng trấn an, trị cúm, ho, lỵ. - Lê(Annona glaba) Ăn quả chín. Luận văn *Chi cananga – ngọcthạc Lan , Hoàngsĩ LanKhoa : Việt nam cóhọc loài: - Ngọc lan tây (Canangaodorate), hoa khô chữa sốt rét, tinh dầu thơm của gỗ pha nƣớc uống chữa giun, sốt , ghẻ.
*Chi Xypopia – giền : ở Việt Nam có các loài: - Giền đỏ (Xypopiavielana) lá sắc uống chữa đau lƣng, tê thấp. *Chi goniothalamus - giác đế : ở Việt Nam có 19 loài. Chi Giác đế (Goniothalamus ( Blume) Hook. Đặc điểm thực vật Chi Goniothalamus có các cây bụi hoặc gỗ nhỏ.
Hoa lƣỡng tính. Phân quả ngồi hoặc có cuống ngắn. Có khoảng 110 loài, phân bố ở châu Á đến Niu Ghinê, tập trung nhiều ở Đông Nam Á. Ở Việt Nam có 19 loài.[3] 8 Các loài cây này thƣờng đƣợc sử dụng để trị bệnh thấp khớp, sốt, giảm đau, kích thích tiêu hoá.
Đặc điểm thực vật của một số loài thuộc chi Goniothalamus (Blume) Hook. 1) Goniothalamus albflorus Ban – giác đế hoa trắng. Dạng sống và sinh thái: Gỗ nhỏ, cao 5 – 7m. Mọc rải rác dƣới tán rừng.
ra hoa tháng 4 – 5 mang quả tháng 6 – 7. 2) Goniothalamus multiovulatus Ast – giác đế nhiều noãn. Dạng sống và sinh thái: Gỗ nhỏ, cao 8 – 10m, nhánh chữ chi, kịch cơm không lông. Lá có phiến to, dài 30 - 40cm, không lông, mặt trên láng, nâu đậm lúc Luận văn thạc sĩ Khoa học khô, gân phụ 16 - 20 cặp, cuống 1,2cm, to, không lông.
Hoa cô độc ở trên nách lá, rộng 1cm, có 6 tiền diệp ở đáy, cánh hoa cao 1,5cm, cánh hoa trong nhỏ dính nhau hình tháp, trái chín dài 4,5 – 5,5cm, hạt 2- 4, màu tƣơi. Ra hoa tháng 2 – 4, có quả tháng 5 - 7. Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh và rừng 3) Goniothalamus Gabriacianus (Baill) Ast – Oxymitra gabria ciana Baill – Goniothalamus saigonensis Pierre ex Fin & Gagnep - giác Đế Sài Gòn. Phân bố: Quảng Trị (A Lƣới, A Đớt), Đà Nẵng (đèo Hải Vân), Quảng Nam (Cù Lao Chàm), Khánh Hoà (Ninh Hoà, Vọng Phu), Ninh Thuận (Cà Ná), Kon Tum (Kon Plong, Tân Lập), Gia Lai (Kon Hà Nừng), Đắc Lắc (Đắc Mil, Nam Hà, Đức Minh), Tây Ninh, Bình Dƣơng (Thủ Dầu Một), Đồng Nai (Chứa Chan), TP Hồ Chí Minh (Sài Gòn, Thủ Đức), Bà Rịa Vũng Tàu (Bà Rịa, núi Đính, Côn Đảo), Kiên Giang (Hà Tiên, Thuận Yên).
Còn có ở Trung Quốc (Hải Nam), Lào, Campuchia.