Đặt vấn đề Keo tai tượng là loài cây nhập nội được đưa vào trồng ở nước ta từ những năm đầu của thập niên 80, 90. Chỉ trong một thời gian ngắn sau khi tiến hành các khảo nghiệm xuất xứ và các thí nghiệm về biện pháp kỹ thuật gây trồng có kết quả (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003), Keo tai tượng đã được nhanh chóng gây trồng phổ biến ở hầu hết các tỉnh trong cả nước. Keo tai tượng là loài cây gỗ lớn, mọc nhanh, gỗ dễ gia công nên rất được ưa chuộng để đóng đồ gia dụng, làm nhà, ván dăm, làm bột giấy… Trong những năm gần đây, diện tích rừng trồng Keo tai tượng chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng diện tích rừng trồng của Việt Nam. Theo Cục Lâm nghiệp (2006) diện tích rừng trồng Keo tai tượng tại các vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Duyên Hải miền Trung đã đạt trên 600.
Tuy nhiên trước sự gia tăng nhanh về diện tích, rừng trồng loài keo đã xuất hiện nhiều loại bệnh hại gây khó khăn không nhỏ cho người sảm xuất tại nhiều địa phương trong cả nước. Điển hình tại một số nơi như Bầu Bàng, Bình Dương đã xác định một số dòng keo lai đã bị mắc bệnh phấn hồng (Pink disease) với tỷ lệ và mức độ bị bệnh khá cao, gây nhiều thiệt hại cho sản xuất. Tại Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng, trong tổng diện tích hơn 400 ha đã có 118,5 ha bị bệnh với tỷ lệ từ 7 đến 59 % trong đó có một số diện tích bị hại rất nặng. Tỷ lệ bị bệnh nặng nhất ở Ngọc Tụ, Ngọc Hồi, Kon Tum lên đến 90% cây bị chết ngọn.
Do đó việc áp dụng biện pháp hóa học để phòng trừ bệnh cho rừng trồng là không khả thi khi diện tích rừng trồng lớn và gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. n 2 Thái Nguyên là một tỉnh ở vùng Đông Bắc Việt Nam, tỉnh Thái Nguyên với diện tích 3. Với nhiều dãy núi cao chạy theo hướng Bắc-Nam thấp dần xuống phía Nam, đất đồi núi chiếm tỷ lệ cao 48.4% diện tích tự nhiên, với độ cao trên 200m, đất núi thích hợp cho phát triển lâm nghiệp. Trong toàn bộ quỹ đất, đất đã sử dụng 246.22% diện tích tự nhiên) và đất chưa sử dụng 1.714 ha phù hợp cho sản xuất nông nghiệp, 41.250 ha có khả năng sản xuất lâm nghiệp.
Keo tai tượng được trồng hầu hết ở các huyện trong tỉnh như Định Hoá, Đồng Hỷ, Đại Từ, Phú Lương… Xu hướng hiện nay trên Thế giới cũng như ở Việt Nam là công tác chọn giống, lai tạo, tuyển chọn loài, xuất xứ, gia đình và các dòng chống chịu tốt có khả năng kháng bệnh cao đang là hướng đi mới, phát triển bền vững trong công tác quản lý dịch bệnh hại ở rừng trồng. Để góp phần quản lý dịch bệnh hại Keo tai tượng (Acacia mangium) có hiệu quả dựa trên cơ sở tuyển chọn giống thuộc các dòng vô tính, trong khuôn khổ của một luận văn tốt nghiệp tôi đã tiến hành nghiên cứu về chủng loại các vi sinh vật nội sinh có hoạt tính đối kháng với nấm gây bệnh trên các cây chủ. Từ nghiên cứu đó làm sáng tỏ vai trò của vi sinh vật nội sinh trong việc bảo vệ cây chủ từ sự xâm nhiễm của sinh vật gây bệnh đồng thời tuyển chọn ra các dòng vô tính Keo tai tượng có khả năng kháng bệnh thông qua tính kích kháng của các vi sinh vật nội sinh. Trên cơ sở đó tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Phân lập và tuyển chọn nấm nội sinh để tăng cường khả năng kháng bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp.
gây hại cây keo tai tượng tại tỉnh Thái Nguyên“. Mục tiêu - Phân lập được chủng nấm nội sinh trên cây Keo tai tượng ở các độ tuổi khác nhau và trên các bộ phận khác nhau của cây (rễ, thân, lá). n 3 - Đánh giá được khả năng ức chế nấm gây bệnh của các chủng nấm nội sinh. - Tuyển chọn được các chủng nấm nội sinh có khả năng kháng bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp.
- Mô tả được đặc điểm của các chủng nấm nội sinh có hiệu lực ức chế nấm gây bệnh mạnh. Ý nghĩa khoa học: Tìm ra được các chủng nấm nội sinh kháng bệnh chết héo do Ceratocystis sp. Ý nghĩa trong thực tiễn: Qúa trình nghiên cứu này góp phần vào việc giảm thiểu việc sử dụng thuốc hóa học trong việc phòng, trừ bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp. Qua đó giảm thiểu mức độ gây ô nhiễm, hủy hoại môi trường sinh thái từ việc sử dụng thuốc hóa học gây ra.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN 2. Cơ sở khoa học Gần đây một số rừng trồng Keo trọng điểm: Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Duyên Hải miền Trung đã xuất hiện những cây bị chết héo từ trên ngọn xuống hay gọi là chết ngược, bệnh rất khó phát hiện trong giai đoạn đầu. Các mẫu bệnh đã được Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng Viện Khoa học Lâm nghiệp giám định nguyên nhân là do nấm Ceratocystis sp. Vậy phải làm gì để phòng trừ bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp.
mà không phải dùng thuốc hóa học, giảm thiểu ô nhiễm môi trường chúng ta sẽ cùng nhau làm sáng tỏ câu hỏi này. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc 2. Tình hình nghiên cứu về Keo tai tượng Keo tai tượng còn có tên khác là Keo lá to, Keo mỡ, tên khoa học Acacia mangium. Keo tai tượng là loài cây sinh trưởng nhanh, thuộc nhóm gỗ lớn, có chiều cao đạt tới 30 m.
Với trục thân thẳng tới trên ½ chiều cao cây, song ít thấy cây có đường kính trên 60 cm. Đây là loài cây tái sinh nhanh của rừng nhiệt đới. Lá giả rất rộng bản, rộng tới 5 - 10 cm và dài tới 25 cm, lá có màu lục sẫm thường có 4 hoặc 3 đường gân. Là loài cây cố định đạm, tạo cộng sinh ở rễ với nấm Thelephora, tán lá dày nên Keo tai tượng có tác dụng che phủ đất và cải tạo đất tốt.
Trong số các loài keo, Keo tai tượng có hình dáng thân tròn, thẳng, rất phù hợp làm gỗ xẻ phục vụ đồ gia dụng. Gỗ của chúng có khối lượng riêng trung bình khoảng 586kg/m3, thích hợp cho sản xuất gỗ dán, ván dăm, làm nguyên liệu giấy và cả gỗ xẻ.Theo Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn (2003). n 5 Keo tai tượng đã được tiến hành trồng từ những năm 1980, một loạt các loài keo đã được nhập khẩu phục vụ các khảo nghiệm loài, xuất xứ và được tiến hành trên nhiều vùng sinh thái. Nguồn hạt giống chủ yếu do các dự án và tổ chức quốc tế tài trợ như các dự án của FAO, PAM, SIDA, SAREC, CSIRO…Keo tai tượng đã được gây trồng trên diện rộng trong cả nước và cho kết quả khả quan ở nhiều vùng sinh thái.
Giai đoạn từ 1990 - 1995: Chủ yếu là khảo nghiệm loài và xuất xứ trên các vùng sinh thái trên cả nước bao gồm : Vùng Trung tâm, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc Trung Bộ, vùng Đông Nam Bộ, Vùng Tây Nam Bộ (Nguyễn Minh Chí, 2007). Tình hình nghiên cứu về vi sinh vật nội sinh Việc nghiên cứu vi sinh vật nội sinh cũng đã được rất nhiều nhà khoa học trong nước nghiên cứu và áp dụng trong việc phòng trừ các bệnh gây hại đối với cây trồng. Riêng đối với cây lâm nghiệp thì đây cũng là hướng nghiên cứu còn khá mới tuy nhiên cũng đã có những nghiên cứu làm cơ sở cho những nghiên cứu sau này. Nguyễn Lân Dũng và cộng sự đã sử dụng xạ khuẩn để phòng chống bệnh thối cổ rễ cây thông con ở vườn ươm do nấm Fusarium oxysporum gây ra [1].
Vũ Văn Định nghiên cứu về vi khuẩn nội sinh trong cây keo lai có vai trò kháng bệnh đốm lá khô cành ngọn do nấm Colletotrichum gloeosporioides gây ra. Kết quả, tác giả đã phân lập được 30 chủng vi khuẩn, thì có 10 chủng vi khuẩn có hoạt tính kháng nấm bệnh trong đó có 6 chủng vi khuẩn có hiệu lực cao (B01, B02, B03, P01, X01, X02) nằm ở các mẫu keo lai không bị bệnh [2]. Phạm Văn Mạch trong công trình nghiên cứu của mình đã sử dụng các chủng Tricoderma spp., xạ khuẩn Streptomyces spp. để phòng chống bệnh thối cổ rễ cây thông con vườn ươm.
Tuy nhiên những nghiên cứu này mới n 6 dừng lại ở những thí nghiệm các chủng nấm và xạ khuẩn đều được phân lập từ đất (Phạm Văn Mạch, 1991) [6]. Nguyễn Thị Thuý Nga, Phạm Quang Thu (2009) đã phân lập được 30 chủng vi sinh vật có khả năng phân giải lân và tuyển chọn được 15 chủng có hiệu lực phân giải lân rất cao đường kính vòng phân giải lân cao nhất (> 22 mm).4, PGLRH3 sinh trưởng tốt nhất trên môi trường nước chiết khoai tây có bổ sung một số nguyên tố khoáng, có thể ứng dụng 3 chủng này để sản xuất phân bón vi sinh hỗn hợp. Nguyễn Thị Thuý Nga (2010) đã phân lập được 25 chủng vi sinh vật có khả năng phân giải xenlulo trong đó có 10 chủng hiệu lực mạnh đường kính vòng phân giải >15 mm và 5 chủng hiệu lực rất mạnh đường kính vòng phân giải > 20mm. Trong 5 chủng đó có 2 chủng ĐT2 và ĐV2 đường kính >25 mm, có thể ứng dụng 2 chủng này để sản xuất phân bón vi sinh hỗn hợp.
Nguyễn Thị Thuý Nga, Phạm Quang Thu đã tìm ra 5 chủng vi khuẩn (P7, P5, P8, P14, P17) có khả năng đối kháng với nấm bệnh, là cơ sở bước đầu phát triển phương pháp phòng trừ bệnh hại cây rừng bằng chế phẩm sinh học [6]. Nguyễn Hoàng Nghĩa, Phạm Quang Thu đã xác định vai trò của vi khuẩn nội sinh trong cơ chế kháng bệnh loét thân, cành do nấm Colletotrichum gloeosporioides (Penz. gây bệnh hại đối với keo lai [4]. Phạm Quang Thu sử dụng vi sinh vật nội sinh thực vật có khả năng ức chế sự phát triển của nấm gây bệnh cây rừng đã được nghiên cứu ở Việt Nam từ năm 2002, tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu khả năng tương tác của các vi sinh vật có khả năng ức chế sinh vật gây bệnh với các loài sinh vật đặc thù khác nhau như vi sinh vật phân giải lân, vi sinh vật kích thích sinh trưởng, vi sinh vật cố định đạm hội sinh và cộng sinh, vi sinh vật đối kháng với nấm gây bệnh.
để tạo ra chế phẩm hỗn hợp được gọi là “phân vi sinh chức năng”. Phân vi sinh chức năng này đã được nghiên cứu và sản xuất thử cho từng đối n 7 tượng cây trồng như: cây Bông, cây Đậu, cây Cà chua, cây Điều và một số cây khác như cây Keo, cây Thông nhựa, Thông mã vĩ [8].