Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT PHÂN ĐỊNH TRÌNH ĐỘ TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI. Việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài thực tế đã được tiến hành từ rất lâu, tuy nhiên phải đến gần đây mới được quan tâm nhiều. Bằng chứng là đã có khá nhiều cơ sở chính thức và không chính thức tham gia vào hoạt động này ở các trường đại học và các trung tâm dạy tiếng. Đi cùng với điều đó là sự xuất hiện của hàng loạt các giáo trình dạy tiếng Việt.
Nhưng các giáo trình lại không đi theo một hệ thống phân định trình độ nhất định. Nguyên nhân một phần là do thiếu những nghiên cứu đưa ra cơ sở lí thuyết cho sự phân định trình độ tiếng Việt. Trong chương này, chúng tôi cố gắng xác định một cơ sở lí thuyết hợp lí giúp phân định trình độ tiếng Việt một cách thiết thực nhất, hữu ích cho việc dạy và học tiếng Việt. Trước khi bước vào phần nghiên cứu cơ sở lí thuyết cho sự phân định trình độ tiếng Việt, chúng tôi điểm qua tình hình dạy, học tiếng Việt cho người nước ngoài ở Việt Nam hiện nay.1 Tình hình dạy và học tiếng Việt đối với người nước ngoài ở nước ta hiện nay Trước đây, những người nước ngoài học tiếng Việt không nhiều lắm và chủ yếu đến từ các nước xã hội chủ nghĩa, học theo các chương trình trao đổi giữa hai nước.
Nhưng hiện nay thực tế đã hoàn toàn thay đổi. Cùng với sự hợp tác và giao lưu quốc tế về mọi mặt, ngày càng có nhiều người có nhu cầu học tiếng Việt, phục vụ nhiều mục đích khác nhau. Học viên đến từ rất nhiều quốc gia thuộc cả năm châu, phổ biến là: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật, Thái 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lan, Anh, Pháp, Đức, Nga, Mĩ… và nhiều nước khác. Trong số đó, có những người là học giả, sinh viên, có người là nhân viên công ti, nhà đầu tư đến Việt Nam kinh doanh, có những người học tiếng Việt đơn giản chỉ vì sự yêu thích với tiếng Việt.
Mục đích học đa dạng, thì yêu cầu việc dạy tiếng Việt cũng phải thay đổi cho phù hợp. Các trung tâm dạy tiếng cũng vì thế ra đời ngày càng nhiều hơn, đáp ứng nhu cầu, các mục đích học khác nhau. Trước đây chỉ có hai cơ sở là: Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt của Đại học Quốc gia Hà Nội và Khoa Việt Nam học của Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, sau này, ngày càng có nhiều cơ sở và trung tâm khác ra đời như ở Đại học Hà Nội, Đại học Sư phạm Ngoại ngữ, Viện Ngôn ngữ học, khoa Ngôn Ngữ học của Đại học KHXH và NV, Đại học Quốc gia Hà Nội và một số trung tâm khác… Do đó, hình thức dạy và học tiếng cũng đa dạng hơn nhiều về chương trình đào tạo. Có các chương trình đào tạo cử nhân về tiếng Việt nhưng cũng có rất nhiều khóa học ngắn hạn, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, một năm…theo trình độ của các học viên.
Trong giảng dạy, đội ngũ giáo viên dạy tiếng còn có nhiều vấn đề. Phần lớn các giáo viên hiện nay chưa được đào tạo bài bản về lí luận và phương pháp. Họ chủ yếu ra đời từ ngành Ngôn ngữ hoặc Ngoại ngữ, sau đó vừa dạy vừa tích lũy kinh nghiệm từ những người đi trước và từ thực tế công việc của mình. Vì vậy, đội ngũ giáo viên chưa đồng đều và còn nhiều khiếm khuyết.
Những người học ngoại ngữ thì ít kiến thức về ngôn ngữ học, ngược lại, những người học ngôn ngữ thì đa số không giỏi ngoại ngữ. Tuy nhiên, giỏi ngoại ngữ chỉ là một lợi thế, nắm chắc kiến thức ngôn ngữ học vẫn là vấn đề then chốt. Hơn nữa, cả hai trường hợp này đều chưa có nghiệp vụ sư phạm dành riêng cho việc dạy tiếng. Những ai đã từng học khoa Ngôn ngữ, Đại học KHXH và NV, Đại học QGHN cũng có được học môn Dạy tiếng Việt như 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một ngoại ngữ nhưng đó chỉ là bước làm quen, chứ hầu như chưa trang bị được gì nhiều để giúp họ trở thành một giáo viên dạy tiếng sau này.
Vì vậy, trong khi trên thế giới, các phương pháp dạy tiếng phát triển từ những năm 1950, ví dụ: giảng dạy tiếng theo ngữ cảnh phát triển ở Anh, còn phương pháp nghe nói nổi lên ở Mĩ và sau 1980 là phương pháp giao tiếp… thì ở nước ta, hiện nay vấn đề này gần đây mới được quan tâm nhiều. Các nhà nghiên cứu và những người viết sách có đề cập đến nhiều phương pháp, ví dụ: Bùi Hiền nói đến phương pháp ngữ pháp- dịch, phương pháp nghe nhìn, nghe nói, phương pháp trực tiếp, phương pháp thực hành có ý thức,. Hoàng Trọng Phiến cũng đã nhắc đến: phương pháp nghe khẩu ngữ, phương pháp im lặng, phương pháp hoàn toàn bằng hành động, phương pháp thư giãn, phương pháp tự nhiên và phương pháp giao tiếp… Phần lớn các giáo trình dạy tiếng Việt gần đây đi theo phương pháp giao tiếp. Dù vậy thì đó cũng chỉ là kiến thức của các nhà nghiên cứu và những người biên soạn sách.
Thực tế thì đa số giáo viên trẻ dạy tiếng chưa có nhiều kiến thức về vấn đề này. Họ đơn giản chỉ là dạy theo giáo trình có sẵn và theo kinh nghiệm của mình, đôi khi chính họ cũng không để ý xem giáo trình đó được viết theo phương pháp nào. Đó là một thực tế cần phải cải thiện vì giáo viên là người trực tiếp hướng dẫn và cung cấp kiến thức ngôn ngữ cho học viên, họ phải là những người cần am hiểu về các phương pháp nhất. Để cải thiện tình hình này, Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt, Khoa Ngôn Ngữ học, Đại học KHXH và NV, Đại học Quốc gia Hà Nội đã có nhiều lớp bồi dưỡng phương pháp dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ cho các giáo viên trẻ.
Các hoạt động này rất thiết thực và hữu ích và cần được mở rộng hơn nữa. Có một ưu điểm là hiện nay ngày càng có nhiều người đi theo phương pháp hiện đại, coi giáo viên như người trợ giúp phía sau và là bạn đồng hành trong lớp của học viên. Họ có vai trò là người dẫn dắt cho học viên hành động, 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể hiện sự chủ động, sáng tạo và các khả năng của mình. Học viên trở thành trung tâm của tất cả các hoạt động trong lớp.
Phương pháp này giúp người học phát triển được tất cả các kĩ năng ngôn ngữ còn các giáo viên thì dễ dàng nắm được nhược điểm của học viên và có biện pháp giúp họ vượt qua.2 Một số cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài Để phục vụ cho công việc dạy, học tiếng cũng như việc đánh giá mức độ thành thạo ngôn ngữ của các học viên, cần có sự phân chia các trình độ ngôn ngữ khác nhau. Tuy nhiên, trước khi phân định trình độ tiếng Việt, chúng ta cần có một cơ sở lí thuyết hợp lí với các khái niệm tác động đến việc phân định trình độ một ngôn ngữ như: Giao tiếp ngôn ngữ, năng lực ngôn ngữ, thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, các kĩ năng ngôn ngữ và các phương pháp tiếp cận… 1.1 Giao tiếp ngôn ngữ Con người có thể giao tiếp bằng nhiều cách khác nhau, trong đó chủ yếu là giao tiếp bằng ngôn ngữ, như Lê Nin đã nói: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu của con người”. Hiện nay, những nghiên cứu ngôn ngữ học đều cho thấy ngôn ngữ phát triển cùng với sự phát triển của loài người, là công cụ giao tiếp và tư duy. Nó là một hệ thống phức tạp, có sự sinh ra và cũng có thể mất đi.
Nó có đời sống riêng, luôn luôn biến đổi và phát triển. Ban đầu, con người giao tiếp bằng hệ thống kí hiệu âm thanh (ngôn ngữ nói), sau đó các hệ thống chữ viết ra đời, là các hệ thống kí hiệu khác dùng để ghi âm lại các hệ thống âm thanh ngôn ngữ. Do đó, ngôn ngữ hiện nay tồn tại dưới hai dạng: nói và viết (dù một số ngôn ngữ vẫn chưa có chữ viết). 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về mặt dạy, học tiếng, chúng ta có thể sử dụng định nghĩa đơn giản sau: “Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu âm thanh mà con người dùng để giao tiếp” [ 18, tr.
Như vậy, ngôn ngữ có nhiều chức năng nhưng chức năng giao tiếp là quan trọng nhất. Vì vậy, đã có rất nhiều người nghiên cứu ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp. Nhà ngôn ngữ học R.Jakobson đã đề ra một sơ đồ về các nhân tố giao tiếp như sau: Hoàn cảnh giao tiếp NGƯỜI PHÁT…………THÔNG ĐIỆP…………NGƯỜI NHẬN TIẾP XÚC MÃ Trong sơ đồ này, thông điệp chính là văn bản ngôn ngữ, người phát và người nhận có sự tiếp xúc với nhau. Sự tiếp xúc đó là một quá trình tác động - phản hồi.
Vì ngôn ngữ có hai mặt: nói và viết nên hoạt động giao tiếp sẽ có thể được mô hình hoá như sau: Hoàn cảnh giao tiếp NGƯỜI PHÁT VĂN BẢN NGƯỜI NHẬN Nói văn bản nói nghe Viết văn bản viết đọc Nếu là hoạt động giao tiếp trực tiếp thì quá trình tác động - phản hồi diễn ra liên tục, qua lại giữa người phát và người nhận. Ban đầu, người phát tạo ra văn bản, tác động đến người nhận, sau đó người nhận nghe hoặc đọc rồi tạo ra một văn bản phản hồi, tác động lại người phát. Lúc đó vai trò của hai người đã được thay thế cho nhau. Cứ như vậy, quá trình đó diễn ra luân phiên cho đến khi giao tiếp kết thúc.
16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dựa vào sơ đồ trên chúng ta có thể nhận thấy, nghe, nói, đọc, viết là 4 hoạt động cơ bản của giao tiếp ngôn ngữ, trong đó, nghe nói thuộc về giao tiếp bằng âm thanh lời nói, còn đọc, viết thuộc về giao tiếp bằng chữ viết. Trong đó, nói, viết là hai kĩ năng mang tính chủ động, còn nghe và đọc lại mang tính thụ động, là sự tiếp thu những điều người khác tạo ra. Trong hoạt động dạy, học tiếng, chúng ta phải chú ý đến cả giao tiếp bằng lời nói và giao tiếp bằng chữ viết. Dạy giao tiếp bằng lời nói thì phải tập trung vào kĩ năng nói và kĩ năng nghe - hiểu trong khi muốn giao tiếp bằng chữ viết thì phải tập trung vào kĩ năng đọc - hiểu và viết.