Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong quan hệ pháp luật dân sự, di sản thừa kế là yếu tố quan trọng hàng đầu làm phát sinh quan hệ dân sự về phân chia di sản thừa kế theo di chúc. Mục đích cốt lõi của việc giải quyết các tranh chấp phân chia di sản thừa kế là xác định chính xác khối tài sản thừa kế, phân chia di sản đúng kỷ phần mà người thừa kế có quyền được hưởng và hiện thực hóa đúng ý nguyện của người để lại di sản. Trong bối cảnh nền kinh tế - xã hội phát triển, tài sản thuộc sở hữu của công dân ngày càng đa dạng về chủng loại và giá trị (bao gồm cả động sản và bất động sản), các giao dịch và quan hệ tài sản trở nên phức tạp hơn, dẫn đến nhu cầu lập di chúc và số lượng tranh chấp liên quan đến phân chia di sản sau khi một cá nhân qua đời không ngừng gia tăng.
Bộ luật Dân sự năm 2015 đã dành toàn bộ Chương XXII với 25 điều luật (từ Điều 624 đến Điều 648) để điều chỉnh chế định thừa kế theo di chúc. Mặc dù hệ thống quy định đã có nhiều bước tiến bộ so với các giai đoạn trước, việc áp dụng luật vào thực tiễn xét xử vẫn gặp phải nhiều vướng mắc, đặc biệt là trong khâu xác định điều kiện hiệu lực của di chúc, quyền định đoạt tài sản, xử lý di sản dùng vào việc thờ cúng, di tặng và bảo đảm quyền lợi cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.
Xuất phát từ yêu cầu lý luận và thực tiễn đó, khóa luận xác định mục đích nghiên cứu là dựa trên nền tảng lý luận để phân tích các quy định của pháp luật thực định về việc xác định và phân chia di sản thừa kế theo di chúc, chỉ ra những bất cập, thiếu sót và đề xuất định hướng hoàn thiện.
Khóa luận thực hiện 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến xác định di sản thừa kế và phương thức phân chia di sản thừa kế theo di chúc, xây dựng các khái niệm khoa học về di chúc, di sản thừa kế, phân chia di sản thừa kế theo di chúc và các nguyên tắc điều chỉnh.
- Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về xác định di sản và cách thức phân chia di sản thừa kế theo di chúc; làm rõ cơ sở, mục đích của các điều luật, chỉ ra những điểm chưa tương thích, thiếu tính khoa học trong quy định thực định.
- Đưa ra các kiến nghị, đề xuất phương hướng sửa đổi, bổ sung các điều khoản của Bộ luật Dân sự năm 2015 nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về phân chia di sản thừa kế theo di chúc.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Khóa luận không đi sâu vào chế định thừa kế nói chung mà tập trung làm rõ nội dung xác định di sản thừa kế và cách phân chia di sản theo di chúc. Phạm vi nghiên cứu bao gồm các điều kiện để tài sản trở thành di sản, quyền định đoạt và các hạn chế đối với quyền định đoạt của người lập di chúc, xác định người nhận di sản và các phương thức phân chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam thực định cùng các bản án thực tiễn tại Tòa án.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý luận và lịch sử lập pháp, khóa luận tiếp cận chế định thừa kế theo di chúc thông qua sự kế thừa có chọn lọc qua các thời kỳ:
- Luật La Mã cổ đại: Ghi nhận hai hình thức thừa kế là thừa kế theo pháp luật (Intestato) và thừa kế theo di chúc (Testato), xem di chúc là hành vi pháp lý đơn phương thể hiện ý chí của cá nhân có hiệu lực sau khi chết.
- Lịch sử pháp luật Việt Nam: Bộ Quốc triều Hình luật thời Hậu Lê (Điều 374 đến Điều 399, tiêu biểu là Điều 390 quy định về trách nhiệm lập chúc thư); thời kỳ Pháp thuộc với Bộ Dân luật giản yếu Nam Kỳ 1883, Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931 (Điều 320, 323, 313) và Bộ Dân luật Trung Kỳ 1936 (Điều 305); giai đoạn sau Cách mạng Tháng Tám với Sắc lệnh số 47-SL ngày 10/10/1945; Bộ Dân luật năm 1972 tại miền Nam (Điều 573 đến Điều 578 về chúc thư tự tả, công chính, bí mật); Thông tư số 81/1981/TANDTC ngày 24/7/1981 của Tòa án nhân dân Tối cao; Pháp lệnh Thừa kế năm 1990; Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 và trọng tâm là Bộ luật Dân sự năm 2015.
Văn bản pháp luật và văn bản hướng dẫn áp dụng:
- Bộ luật Dân sự năm 2015: Các quy định về giao dịch dân sự (Điều 117), khái niệm di sản (Điều 612), người thừa kế (Điều 613), thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ (Điều 614), người quản lý và quyền/nghĩa vụ của người quản lý di sản (Điều 616, 617, 618), từ chối nhận di sản (Điều 620), khái niệm và điều kiện của người lập di chúc (Điều 624, 625, 630), quyền của người lập di chúc (Điều 626), sửa đổi, bổ sung di chúc (Điều 640), người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (Điều 644), di sản dùng vào việc thờ cúng (Điều 645), di tặng (Điều 646), hàng thừa kế (Điều 651), phân chia di sản theo di chúc (Điều 659).
- Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015: Điều 91 về nghĩa vụ chứng minh.
- Các văn bản chuyên ngành liên quan: Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội; Thông tư số 60/TATC ngày 23/02/1978 của Tòa án nhân dân Tối cao; Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001.
Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học: phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh luật học, phương pháp quy nạp lý luận và phương pháp nghiên cứu tình huống/phân tích bản án thực tiễn (case study).
Nguồn dữ liệu nghiên cứu: Bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam; các giáo trình, sách chuyên khảo của các học giả pháp lý (Nguyễn Ngọc Điện, Phùng Trung Tập, Phạm Văn Tuyết, Đỗ Văn Đại, Trần Thị Huệ, Nguyễn Minh Tuấn, Vũ Thị Lan Hương...); các công trình nghiên cứu trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Tạp chí Luật học; và các bản án xét xử thực tế của Tòa án nhân dân các cấp (Bản án số 01/2018/DS-ST ngày 23/01/2018 và Bản án số 527/2018/DS-ST ngày 18/9/2018).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phân chia di sản thừa kế theo di chúc
Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc và ý nghĩa lý luận của việc phân chia di sản thừa kế theo di chúc:
- Xây dựng khái niệm: Trên cơ sở phân tích khái niệm di chúc (hành vi pháp lý đơn phương thể hiện ý chí định đoạt tài sản của cá nhân sau khi chết) và di sản thừa kế (theo Điều 612 BLDS 2015 gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác), tác giả đưa ra định nghĩa: Phân chia di sản thừa kế theo di chúc là tập hợp các hoạt động nhằm xác lập quyền sở hữu đối với phần di sản cho từng người có quyền hưởng thừa kế trong khối di sản chung sau khi đã thực hiện nghĩa vụ tài sản từ di sản theo ý chí của người để lại di sản và quy định của pháp luật, chấm dứt tình trạng đồng sở hữu di sản giữa các đồng thừa kế.
- Đặc điểm cơ bản: Phân chia di sản theo di chúc mang ba đặc điểm chính: (1) Tuân thủ ý chí của người lập di chúc; (2) Được xác định dựa trên toàn bộ nội dung của bản di chúc hợp pháp; (3) Là hình thức chuyển giao quyền sở hữu tài sản đặc thù giữa một bên chủ thể đã chết và bên chủ thể còn sống.
- Phân biệt hai hình thức phân chia di sản:
| Tiêu chí phân biệt |
Phân chia di sản theo di chúc |
Phân chia di sản theo pháp luật |
| Căn cứ phân chia |
Dựa trên ý chí cụ thể, rõ ràng của người để lại di sản được thể hiện trong bản di chúc hợp pháp. |
Dựa trên sự phỏng đoán ý chí của người chết theo quy định pháp luật dựa vào quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng. |
| Chủ thể nhận di sản |
Bất kỳ cá nhân, tổ chức, pháp nhân nào hoặc Nhà nước được chỉ định trong di chúc. |
Giới hạn nghiêm ngặt trong các hàng thừa kế theo luật định (Điều 651 BLDS 2015). |
| Tỷ lệ/Kỷ phần hưởng |
Theo sự định đoạt trong di chúc (chia đều, theo tỷ lệ, hoặc theo hiện vật cụ thể). |
Chia đều cho những người cùng hàng thừa kế (trừ trường hợp từ chối hoặc bị truất quyền). |
- Các nguyên tắc phân chia: Tác giả làm rõ 04 nguyên tắc nền tảng:
- Nguyên tắc tôn trọng ý chí của người lập di chúc: Thể hiện quyền định đoạt tài sản theo Điều 626, 640 BLDS 2015, nhưng bị giới hạn hợp lý bởi các quy định bảo vệ người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc (Điều 644) và thứ tự ưu tiên thanh toán nghĩa vụ.
- Nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của người thừa kế: Cho phép các đồng thừa kế tự do thỏa thuận phân chia khác nội dung di chúc miễn là không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
- Nguyên tắc bảo đảm tính đoàn kết trong gia đình: Ưu tiên hòa giải, xem xét tâm tư, tình cảm nhằm giải quyết triệt để nguồn gốc mâu thuẫn.
- Nguyên tắc tôn trọng tập quán, thuần phong mỹ tục: Xem xét yếu tố văn hóa truyền thống (thờ cúng tổ tiên, công sức chăm sóc nuôi dưỡng) để phân chia hợp tình, hợp lý.
Chương 2: Quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành về phân chia di sản thừa kế theo di chúc
Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm thực định của BLDS năm 2015:
- Điều kiện đối với người lập di chúc:
- Về độ tuổi và khả năng nhận thức: Người thành niên có đủ năng lực hành vi dân sự, minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép (Điều 625, Điều 630). BLDS 2015 loại trừ quyền lập di chúc của người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi.
- Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi: Được quyền lập di chúc định đoạt tài sản riêng nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc. Tác giả nhấn mạnh điểm mới của BLDS 2015: cha mẹ/người giám hộ chỉ đồng ý về việc lập di chúc chứ không được can thiệp vào nội dung di chúc, và di chúc này bắt buộc phải lập thành văn bản.
- Chủ thể có quyền nhận di sản:
- Cá nhân: Phải còn sống tại thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết (Điều 613). Tác giả phân tích khía cạnh y sinh học và pháp lý về trường hợp thụ tinh nhân tạo/trẻ sinh ra từ tinh trùng lưu trữ của người đã mất, ủng hộ quy định giới hạn của Điều 613 nhằm bảo đảm trật tự xã hội. Đồng thời phân tích quyền từ chối nhận di sản (khoản 2, 3 Điều 620).
- Pháp nhân: Phải tồn tại hợp pháp vào thời điểm mở thừa kế.
- Các phương thức phân chia di sản theo Điều 659 BLDS 2015:
- Di chúc xác định toàn bộ tài sản: Nếu di chúc không nêu rõ phần của từng người thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định.
- Phân chia theo hiện vật cụ thể: Người thừa kế nhận hiện vật kèm hoa lợi, lợi tức phát sinh hoặc chịu rủi ro giảm sút giá trị; nếu vật bị người khác hủy hoại có quyền đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
- Phân chia theo tỷ lệ tổng giá trị khối di sản: Tỷ lệ được tính trên giá trị di sản còn lại tại thời điểm phân chia.
- Các trường hợp đặc biệt:
- Di sản dùng vào việc thờ cúng (Điều 645): Không được chia thừa kế; tuy nhiên nếu toàn bộ di sản không đủ thanh toán nghĩa vụ tài sản hoặc có người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc thì phần thờ cúng phải bị cắt giảm tương ứng.
- Di sản dành để di tặng (Điều 646): Người nhận di tặng không phải chịu nghĩa vụ tài sản thay người chết, trừ trường hợp toàn bộ di sản thừa kế không đủ để trả nợ.
- Xử lý xung đột khi vừa có di sản thờ cúng vừa có di tặng: Đánh giá các luồng quan điểm và khẳng định khi di sản thừa kế không đủ trả nợ, cả phần thờ cúng và phần di tặng đều phải cùng chịu trách nhiệm đóng góp theo tỷ lệ để thanh toán nghĩa vụ.
- Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (Điều 644): Bảo đảm cho con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng hoặc con thành niên không có khả năng lao động được hưởng phần di sản bằng ít nhất 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật (nếu di sản được chia theo luật).
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về phân chia di sản thừa kế theo di chúc và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về phân chia di sản thừa kế theo di chúc
Chương 3 tổng kết thực tiễn xét xử thông qua phân tích 02 vụ án cụ thể và đưa ra hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
BẢN ÁN THỰC TIỄN ĐƯỢC MỔ XẺ TRONG KHÓA LUẬN
Tuyên ông C hưởng 2/3 suất thừa kế (13.386.666.667 VNĐ), bà L hưởng 6.693.333.333 VNĐ
Nội dung chi tiết 2 bản án:
- Bản án số 01/2018/DS-ST ngày 23/01/2018: Giải quyết tranh chấp đòi quyền sử dụng đất để quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng. Căn cứ Điều 616, 617, 618 BLDS 2015 và sự thỏa thuận thống nhất của các đồng thừa kế, Tòa án chấp nhận giao diện tích 271,1 m2 đất cho ông Đặng Hồng R trực tiếp quản lý phục vụ thờ cúng; đồng thời áp dụng Điều 91 BLTTDS 2015 và Điều 584 BLDS 2015 bác yêu cầu bồi thường 60 gia lúa do nguyên đơn không chứng minh được thiệt hại thực tế.
- Bản án số 527/2018/DS-ST ngày 18/9/2018 của TAND quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh: Giải quyết yêu cầu hưởng di sản của người thừa kế không phụ thuộc vào di chúc. Tòa án xác định quan hệ chung sống từ năm 1979 giữa ông Trần Ngọc C và bà Mai Thị L1 là hôn nhân thực tế hợp pháp (áp dụng Thông tư 60/TATC ngày 23/02/1978, Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 và Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP). Do ông C là người thừa kế duy nhất thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà L1 theo Điều 651 BLDS 2015, Tòa án áp dụng Điều 644 BLDS 2015 tuyên bản di chúc lập cho bà Mai Ngọc L chỉ có hiệu lực một phần; giao căn nhà trị giá 20.080.000.000 đồng cho ông C quản lý và buộc ông C trích trả 1/3 giá trị kỷ phần (tương đương 6.693.333.333 đồng) cho bà L.
Hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
- Về di sản dùng vào việc thờ cúng (Điều 626, Điều 645 BLDS 2015): Cụm từ "một phần tài sản trong khối di sản" hiện bị các tổ chức hành nghề công chứng hiểu không thống nhất (hiểu là một phần của từng tài sản đơn lẻ dẫn đến từ chối công chứng việc dành toàn bộ một căn nhà/thửa đất duy nhất để thờ cúng). Cần quy định rõ phạm vi di sản thờ cúng được tính theo tỷ lệ phần trăm trên tổng giá trị toàn bộ khối di sản của người chết.
- Về cơ chế thanh toán nghĩa vụ tài sản: Sửa đổi, gộp khoản 2 Điều 645 và khoản 3 Điều 646 BLDS 2015 theo hướng: Trong trường hợp toàn bộ di sản còn lại sau khi trừ di tặng và di sản thờ cúng không đủ để thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết, nhưng toàn bộ khối di sản (bao gồm cả phần di tặng và thờ cúng) đủ để thực hiện nghĩa vụ thì di sản di tặng và di sản thờ cúng cùng phải chịu trách nhiệm đóng góp để thanh toán nghĩa vụ theo tỷ lệ tương ứng.
- Về cơ chế chấm dứt quản lý di sản thờ cúng: Cần bổ sung quy định xử lý đối với di sản thờ cúng qua nhiều thế hệ khi không còn người quản lý hoặc tài sản xuống cấp, tránh tình trạng tài sản bị "đóng băng", không thể đưa vào giao lưu dân sự phục vụ phát triển kinh tế.
Kết quả và đóng góp
Về mặt dữ liệu và phát hiện nghiên cứu, khóa luận đã làm rõ cơ chế vận hành của các điều khoản trọng tâm trong BLDS năm 2015:
- Xác lập cơ chế phân định quyền lập di chúc của người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi theo hướng bảo vệ quyền tự định đoạt nội dung tài sản cá nhân.
- Phân tích và minh chứng thành công việc áp dụng Điều 644 BLDS năm 2015 qua số liệu bản án thực tế: giải quyết việc trích chia 2/3 kỷ phần thừa kế bắt buộc từ khối di sản nhà đất trị giá 20.080.000.000 đồng, bảo đảm hài hòa giữa quyền lợi của người thừa kế hợp pháp theo luật và người được chỉ định trong di chúc.
- Chỉ ra điểm nghẽn pháp lý trong thực tiễn công chứng và xét xử đối với quy định về di sản thờ cúng tại Điều 645 và di tặng tại Điều 646 BLDS 2015.
Về mặt đóng góp học thuật và lập pháp:
- Bổ sung và chuẩn hóa khái niệm khoa học về "phân chia di sản thừa kế theo di chúc" và hệ thống 04 nguyên tắc đặc thù trong luật dân sự.
- Đề xuất mô hình sửa đổi kỹ thuật lập pháp tại khoản 2 Điều 645 và khoản 3 Điều 646 BLDS năm 2015, đưa ra nguyên tắc bình đẳng về tỷ lệ đóng góp thanh toán nghĩa vụ nợ giữa di tặng và di sản thờ cúng.
- Cung cấp luận cứ khoa học cho các cơ quan xây dựng pháp luật, Tòa án và các tổ chức công chứng trong quá trình giải thích, áp dụng các quy định về thừa kế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài: Khóa luận tập trung nghiên cứu chuyên sâu vào các vấn đề lý luận và thực tiễn phân chia di sản thừa kế theo di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam thực định; chưa mở rộng so sánh toàn diện với pháp luật của các quốc gia theo hệ thống Thông luật (Common Law) hay Dân luật (Civil Law) hiện đại. Về mặt thực tiễn, dung lượng nghiên cứu tình huống mới chỉ tập trung phân tích sâu vào 02 bản án sơ thẩm ban hành trong giai đoạn đầu thi hành BLDS năm 2015 (năm 2018), chưa bao quát toàn bộ các tranh chấp thừa kế phức tạp có yếu tố nước ngoài.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu mở rộng việc tổng kết thực tiễn áp dụng các Án lệ của Hội đồng Thẩm phán TANDTC liên quan đến tranh chấp thừa kế theo di chúc.
- Nghiên cứu chuyên đề về giải quyết xung đột pháp luật trong phân chia di sản thừa kế có yếu tố nước ngoài.
- Hoàn thiện chế định di chúc điện tử và phân chia tài sản kỹ thuật số trong bối cảnh chuyển đổi số và công nghệ thông tin.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Tố tụng Dân sự tham khảo khi làm khóa luận, luận văn về chế định thừa kế và giải quyết tranh chấp dân sự.
- Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư tham khảo các lập luận thực tế trong việc xác định hôn nhân thực tế theo các văn bản chuyên ngành và cách tính toán 2/3 suất thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc theo Điều 644 BLDS 2015.
- Công chứng viên, chuyên viên pháp lý tại các tổ chức hành nghề công chứng tham khảo khi tiếp nhận hồ sơ công chứng di chúc có nội dung để lại tài sản thờ cúng, di tặng.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo quy định của BLDS năm 2015, người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có được tự mình định đoạt nội dung di chúc không?
Có. Khoản 2 Điều 625 BLDS năm 2015 quy định cá nhân từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được lập di chúc nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc. Cha mẹ hoặc người giám hộ không có quyền can thiệp, áp đặt nội dung định đoạt tài sản của chủ thể này. Đồng thời, di chúc của người ở độ tuổi này bắt buộc phải được lập thành văn bản.
2. Người thừa kế sinh ra sau thời điểm mở thừa kế cần đáp ứng điều kiện gì để được nhận di sản theo di chúc?
Căn cứ Điều 613 BLDS năm 2015, người thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp đứa trẻ sinh ra nhưng chết ngay (dưới 24 giờ) thì không phát sinh quyền hưởng thừa kế.
3. Khi toàn bộ di sản không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ của người chết, di sản thờ cúng và di sản di tặng được xử lý như thế nào?
Theo quy định tại khoản 2 Điều 645 và khoản 3 Điều 646 BLDS năm 2015, cả phần di sản dùng vào việc thờ cúng và phần di sản dành để di tặng đều không được loại trừ mà phải được sử dụng để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người chết. Tác giả kiến nghị cả hai loại di sản này cần cùng chịu trách nhiệm đóng góp trả nợ theo tỷ lệ tương ứng trên giá trị tài sản.
4. Trong Bản án số 527/2018/DS-ST, Tòa án đã tính kỷ phần thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc của người chồng như thế nào?
Tòa án xác định ông Trần Ngọc C là người thừa kế duy nhất thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo Điều 651 BLDS 2015. Khi khối di sản nhà đất được định giá là 20.080.000.000 đồng, căn cứ Điều 644 BLDS 2015, ông C được hưởng 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật (tương đương 13.386.666.667 đồng), bản di chúc để lại cho bà Mai Ngọc L chỉ có hiệu lực đối với 1/3 giá trị tài sản còn lại (tương đương 6.693.333.333 đồng).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp "Phân chia di sản thừa kế theo di chúc - một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của tác giả Nguyễn Thị Linh Chi đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và quá trình phát triển của pháp luật thừa kế Việt Nam. Thông qua việc phân tích chuyên sâu các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 kết hợp đối chiếu các bản án xét xử thực tế, công trình đã làm rõ nhiều vướng mắc phát sinh liên quan đến di sản thờ cúng, di tặng và quyền lợi của người thừa kế theo Điều 644. Những kiến nghị sửa đổi quy phạm pháp luật do tác giả đề xuất mang tính khả thi cao, góp phần hoàn thiện chế định thừa kế và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp dân sự trong thực tiễn.