Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ NỮ QUYỀN LUẬN SINH THÁI VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH 1. Khái lược về nữ quyền luận sinh thái 1. Khái niệm và lịch sử phát triển của nữ quyền luận sinh thái Chủ nghĩa nữ quyền luận sinh thái (ecofeminism) được biết đến như một phong trào chính trị - xã hội được ra đời ở phương Tây từ những năm 1970 và được phát triển mạnh mẽ từ những năm 1980 đến nay. Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái tập trung nghiên cứu những trào lưu lý thuyết liên kết nữ quyền với những vấn đề sinh thái tự nhiên.
Khuynh hướng này tìm hiểu về mối liên hệ giữa người phụ nữ với những vấn đề về môi trường tự nhiên và đặt ra câu hỏi: liệu rằng giữa những đứa con của Mẹ thiên nhiên như đất, nước, cây cối, muôn thú với những vấn đề của chúng như hạn hán, lũ lụt, ô nhiễm môi trường… có liên quan gì đến phụ nữ? Có thể nói rằng đây chính là hợp lưu giữa hai dòng chảy sinh thái học và chủ nghĩa nữ quyền. Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái được biết đến với hai cách gọi: Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái (The feminism of ecology) và Sinh thái học chủ nghĩa nữ quyền (The ecology of feminism). Các đại biểu tiêu biểu là Karen J. Trong quá trình hình thành và phát triển ý thức nữ quyền thì nữ quyền luận sinh thái (Ecofeminism) có thể xem là nhân tố chủ yếu tạo nên bước ngoặt của phê bình nữ quyền.
Thuật ngữ Ecofeminism do nhà văn, nhà triết học người Pháp Françoise d'Eaubonne đề cập đến lần đầu năm 1974, khi bà kêu gọi phụ nữ tổ chức một cuộc cách mạng sinh thái để cứu trái đất trong cuốn sách Le Féminisme ou la Mort ( Chủ nghĩa nữ quyền hay là chết). Trong cuốn sách này, bà đã lập luận và chỉ ra sự kết nối đặc biệt giữa phụ nữ và thiên nhiên, bởi lẽ phụ nữ và thiên nhiên đều có đặc điểm chung là họ phải chịu sự đàn áp, bóc lột, thống trị của một nền tảng xã hội gia trưởng phương Tây. Từ đó bà đã kêu gọi phụ nữ tham gia vào công cuộc đấu tranh bảo vệ môi trường tự nhiên cũng như việc xây dựng mối quan hệ bình đẳng giữa con người với thiên nhiên; giữa nam giới và nữ giới. Bởi lẽ hơn ai hết, phụ nữ phù hợp và có khả năng thực hiện tốt nhất trách nhiệm này.
Qua đó Françoise d'Eaubonne khẳng định vị trí và tầm quan trọng cũng như khả năng của giới nữ trong vấn đề giải quyết những nguy cơ sinh thái mang tính chất toàn cầu. Mối quan hệ của nữ giới và sinh thái cũng được đề cập đến trong một số công trình như: Staying alive: women, ecology, and development(1988) - (Duy trì sự sống: phụ nữ, sinh thái và phát 7 triển) của tác giả Shiva Vandana. Trong tác phẩm của mình, Shiva Vandana khẳng định rằng phụ nữ và môi trường có mối quan hệ đặc biệt thông qua các tương tác hàng ngày giữa họ, đặc biệt trong nền kinh tế tự cung tự cấp. Bà cũng chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự xâm phạm tự nhiên và bóc lột với nữ giới, từ đó đề ra giải pháp giải quyết các vấn đề đó chính bằng con đường sinh thái hài hoà, bền vững và đa dạng.
Trong cuốn Ecofeminism: Sociology and environementalism-(Nữ quyền luận sinh thái: Xã hội học và chủ nghĩa môi trường) của Kathryn Miles, tác giả cũng khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa nữ giới với thiên nhiên và vai trò sinh học đặc biệt của họ. Bà còn nhấn mạnh đến sự nhạy cảm của họ với sự thiêng liêng và xuống cấp của môi trường. Tác giả Carolyn Merchant trong công trình nghiên cứu The Death of Nature: Women, Ecology, and Scientific revolution(1990) (Cái chết của tự nhiên: Phụ nữ, sinh thái học và cách mạng khoa học) đã phân tích sâu sắc vấn đề “cái chết của tự nhiên” khi khoa học kỹ thuật phát triển đã làm nảy sinh “thuyết cơ giới” thay thế cho quan niệm tự nhiên của “thuyết hữu cơ”. Greta Gaard trong công trình nghiên cứu Ecofeminism: Women, animals, nauture( Nữ quyền sinh thái: Phụ nữ, động vật, thiên nhiên) đã nói rằng: “Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái kêu gọi chấm dứt tất cả các áp bức, lập luận rằng không một nỗ lực giải phóng phụ nữ (hoặc bất kỳ nhóm bị áp bức khác) có thể thành công nếu không có một nỗ lực bình đẳng để giải phóng tự nhiên” [28, tr.766-780] Cheryll Glotfelty trong Introduction: Literary Studies in an Age of Environmental Crisis (Dẫn luận nghiên cứu văn học trong thời kỳ khủng hoảng môi trường) cũng khẳng định chủ nghĩa nữ quyền luận sinh thái là một dấu mốc quan trọng trong sinh thái học: “chủ nghĩa nữ quyền sinh thái là một diễn ngôn lý thuyết.
tiền đề của nó là sự nối kết sự áp bức phụ nữ và sự thống trị tự nhiên của chế độ phụ quyền”[44]. Ortner trong công trình nghiên cứu Is female to male as nature is to culture? (Phải chăng quan hệ giữa nữ giới và nam giới cũng tương tự như quan hệ giữa tự nhiên và văn hoá”) đã chỉ ra: “nguyên nhân tình trạng phổ quát của sự bất bình đẳng, xem phụ nữ như một sinh vật hạng hai, Ortner lý giải rằng các tâm thức văn hoá nhân loại thường đồng nhất nữ giới với cái tự nhiên, đồng nhất nam giới với cái xã hội hoá, cái văn hoá và xem cái văn hoá, cái xã hội hoá, cái nhân sinh cao hơn, có giá trị hơn cái tự nhiên. 8 Còn theo tác giả Nguyễn Thị Tịnh Thy: “phê bình văn học chủ nghĩa nữ quyền hiểu theo nghĩa rộng là một diễn ngôn gắn với chính trị”, “phân tích những kết nối mang tính khái niệm giữa việc đối xử với phụ nữ và thế giới phi nhân”. Phê bình văn học chủ nghĩa nữ quyền sinh thái sử dụng phương pháp phê bình nữ quyền và phê bình sinh thái để nghiên cứu mối quan hệ giữa tự nhiên và nữ giới trong lĩnh vực văn học từ góc nhìn tự nhiên và nữ giới.
Nó nhấn mạnh mối quan hệ thống nhất giữa con người và tự nhiên, giải cấu trúc phương thức tư duy đối lập nhị nguyên giữa nam giới/nữ giới, văn hoá/tự nhiên, tinh thần/ thể xác, lý trí/ tình cảm…”[45,tr. Nhìn các tác phẩm văn học dưới lăng kính phê bình nữ quyền luận sinh thái cho ta cái nhìn toàn diện hơn về bức tranh song trùng đối với tự nhiên và phụ nữ, đào sâu giá trị sinh thái, đặc trung văn học và nội hàm thẩm mỹ mang trong nó. Tóm lại, không giống như các lý thuyết khác, chủ nghĩa nữ quyền sinh thái không bắt nguồn từ công thức đơn lẻ nào là sự hợp nhất của tư tưởng nữ quyền luận và phê bình sinh thái, trong đó phương pháp tiếp cận của nó được bắt đầu với nữ quyền luận. Trào lưu chính trị xã hội này đã góp phần lật đổ những giá trị truyền thống nhân loại về vấn đề sự thống trị tự nhiên và nữ giới tồn tại từ trước đến nay.
Nữ quyền luận sinh thái trong văn học Việt Nam hiện đại Nữ quyền luận sinh thái là một khuynh hướng nghiên cứu mới và đầy tính khả dụng. Nguyễn Thị Tịnh Thy cho rằng phê bình văn học từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái – kết tinh của cuộc hôn phối giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong phê bình văn học. Đây là một sự kết hợp như là một sợi dây vô hình gắn bó chặt chẽ giữa thiên nhiên và giới nữ. Trong thời đại ngày nay, vấn đề môi trường và vấn đề về sự đấu tranh bảo vệ, đòi quyền bình đẳng cho nữ giới đang được đặt lên hàng đầu.
Sản phẩm kết hợp với phê bình nữ quyền luận sinh thái đã tạo nên những tác phẩm văn học có giá trị nhân văn và ý nghĩa giáo dục sâu sắc, là hướng đi mới nhằm giáo dục nhận thức về bình đẳng giới và vấn đề bao tồn tự nhiên của con người. Như vậy, phê bình sinh thái có sứ mệnh đặc biệt, nó “tác động đến nhận thức, văn hóa của con người hiện đại theo hướng kìm hãm những dục vọng cùng suy nghĩ và hành động phi lý của con người hiện đại trong quan hệ với tự nhiên” [39, tr. Văn học Việt Nam cũng có những tác phẩm tiêu biểu, có sức ảnh không nhỏ trong việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên với vẻ đẹp đầy nội lực, mang đậm thiên tính nữ. Trong truyện ngắn Xuân nữ của Dạ Ngân, tác giả đã thể hiện vẻ đẹp căng tràn đầy sức sống của Xuân- người phụ nữ tuổi quá tứ tuần.
Vẻ đẹp người đàn bà ấy lấn át đi mọi không khí ảm 9 đạm, chết chóc của chiến tranh và được hoà quyện, nâng đỡ cùng với vẻ đẹp hùng vĩ, nguyên sơ, mượt mà của rừng núi đại ngàn:“Một gương mặt có cạnh hàm hơi vuông nếu nhìn nghiêng… Du kích sống rải rác trong những căn chòi thấp phủ bằng những tàu lá chết, tất cả sự sống phải bị che đậy bằng cái chết của cả một biền lá để qua mắt lũ máy bay các loại quần thảo suốt ngày” [51,tr. Nếu như phụ nữ luôn hoà hợp với thiên nhiên, là sứ giả của tự nhiên, luôn bảo vệ, nuôi dưỡng thiên nhiên và ngược lại thì đàn ông luôn trong thế muốn “áp chế” cả hai vẻ đẹp đó. Beauvoir đã từng nhận định: “Đàn ông muốn tìm thấy ở sự chiếm đoạt phụ nữ một cái gì khác, ngoài yêu cầu thỏa mãn một bản năng: phụ nữ là một đối tượng đặc thù, qua đó đàn ông nô dịch Thiên nhiên” [37, tr. Và rằng: “Trong lúc tạo ra các giá trị, hoạt động của đàn ông tạo nên bản thân cuộc sống với tư cách một giá trị; nó chiến thắng các lực lượng hỗn độn của cuộc sống; nó chinh phục Thiên nhiên và người Phụ nữ”[37, tr.
Người phụ nữ luôn mang trong mình thiên tính bảo vệ, nâng đỡ tự nhiên. Họ có thể lắng nghe, thấu hiểu và coi thiên nhiên như những người bạn tâm giao, họ yêu thiên nhiên, yêu nơi mình sinh ra và lớn lên - nơi quê hương cội nguồn của mình. Nhà văn Quế Hương đã từng chia sẻ: “Tôi viết bằng những mẩu thời gian vun vặt nhặt được. Viết ít thôi khi có cảm xúc bởi còn có thời gian để làm vợ, làm mẹ, yêu thương cây cỏ, con chó đói, mèo hoang…” [28tr.
Tính nhân văn được thể hiện rõ nét qua sự kết nối giữa tự nhiên vô sinh cũng như hữu sinh mà chỉ có người phụ nữ với bản năng mới có được.