CHƯƠNG 1. ĐỀ TÀI NÔNG THÔN TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975 1. Diện mạo của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 viết về nông thôn 1. Nông thôn Việt Nam sau 1975 và mối quan hệ giữa nông thôn và văn học Nông thôn Việt Nam có nhiều thay đổi về hoàn cảnh lịch sử, tư tưởng, văn hoá xã hội qua từng chặng đường.
Sau năm 1975, miền Nam được giải phóng đất nước được thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, của nhà nước nhân dân ta đã nỗ lực vừa hàn gắn vết thương trong chiến tranh gây ra, vừa khôi phục lại nền kinh tế để ổn định đời sống cho nhân dân và cho xã hội. Tuy nhiên do hậu quả vô cùng nặng nề của chiến tranh kết hợp với sự chủ quan, duy ý chí, cách quản lí quan liêu bao cấp của Chính Phủ mà nền kinh tế nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội đặc biệt là vào nửa đầu những năm 80 của thế kỷ XX thì tình trạng đặc biệt trầm trọng. Công cuộc đổi mới toàn diện của xã hội Việt Nam được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) phát động diễn ra trên mọi lĩnh vực. Đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa với cơ chế thị trường nền kinh tế nhiều thành phần.
Trong hoàn cảnh đó đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh giữa cái tốt với cái xấu vẫn diễn ra ngày càng gay gắt. Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và sự phát triển của công nghệ thay cho lực lượng sản xuất thay đổi nhanh như vũ bão. Thế giới trở thành một sân chơi lớn với sự tự do cạnh tranh, quá trình quốc tế hoá và khu vực trở thành xu hướng mạnh mẽ ảnh hưởng đến mọi mặt trong đời sống quốc tế đã tạo nên thách thức và cơ hội cho các nước. Trong khi đó, nền kinh tế nước ta còn nghèo nàn, lạc hậu trong xu thế hội nhập với nhiều mặt tốt, mặt xấu với lối sống tiêu cực, nhiều giá trị bị đảo lộn.
Có thể nói, một cách tổng thể đất nước ta thoát ra khỏi những khủng hoảng, tạo điều kiện phát triển và đây là thời kì mà cả đất nước cần phải tập trung phát huy tất cả vật lực và trí lực để dựng xây đất nước phồn vinh. Năm 1986 khi mà đất nước tiến hành đổi mới toàn diện, tình trạng khủng hoảng được chấm dứt, 15 đất nước ta đi vào thời kì mới với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh những thành tựu, còn có những tác động tiêu cực đến mọi mặt trong đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn. Bên cạnh đó, quá trình dân chủ hoá đã tạo cơ hội vô cùng thuận lợi để các tác giả văn học được bộc lộ những quan điểm riêng, cùng tài năng và cá tính riêng của mình. Những điều trên đã tác động đến tư duy nghệ thuật của nhiều tác giả.
Vì thế mà hoàn cảnh xã hội, lịch sử, văn hoá trên là một trong những tiền đề quan trọng mang cả tính khách quan và chủ quan đã khiến nền văn học Việt Nam nói chung và tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn nói riêng sau năm 1975 đặc biệt là sau công cuộc đổi mới 1986 phát triển mạnh mẽ. Nông thôn Việt Nam sau ngày giải phóng vẫn luôn giữ được bản sắc và những giá trị văn hóa độc đáo. Trước hết đó là tinh thần thống nhất cộng đồng trong đời sống lao động và sản xuất, quan hệ xã hội, thích ứng với điều kiện tự nhiên. Nông thôn là nơi cân bằng cảm xúc.
Con người trong đời sống ở nông thôn luôn gắn bó hài hòa với nhau, đồng thời thiên nhiên cũng gắn bó với con người. Con đường làng thông thoáng, quanh co, cây chen lá, đá chen hoa. Những con mương với làn nước trong vắt cùng tường rào bằng gỗ phủ kín những mảng dây leo. Ao làng đã có môi trường sống trong lành, vừa cân bằng nhiệt độ, vừa lưu giữ dấu tích thời xưa.
Con người được sống hạnh phúc trong không gian trong sạch cùng những hình ảnh thân quen đến vậy. Khi nhu cầu vật chất trong đời sống của con người cao hơn thì sẽ xảy ra những xung đột về lợi ích cá nhân, vì thế tính cộng đồng dần dần không còn nữa, tình cảm chia sẻ, tình làng nghĩa xóm bị rạn nứt. Lúc ấy, nhân dân phải đối mặt với “đèn nhà ai nấy sáng, ruộng nhà ai nấy làm”. Từ đó, luôn tồn tại hai trạng thái cảm xúc trong con người: tích cực và tiêu cực.
Khi con người rơi vào tình trạng mâu thuẫn về mặt cảm xúc thì văn hoá sẽ giúp cân bằng cảm xúc, tạo ra những tình cảm tích cực, hạn chế nhiều cảm xúc tiêu cực. Cảm xúc tích cực giúp tạo ra xã hội hài hoà. 16 Không những vậy hoạt động sản xuất nông nghiệp còn tác động đến sự hình thành các giá trị văn hóa trong đời sống tinh thần. Ở nông thôn, làng ban đầu là nơi cư trú, dần dẫn sẽ mở rộng ra là không gian xã hội và không gian văn hóa.
Mỗi khi hoàn thành công việc đồng áng vất vả, họ sẽ tụ tập, quây quần đối đáp, đố vui, hát vè.nuôi dưỡng tâm hồn. Cứ thế đến một lúc nào đó lượng biến đổi thành chất và tạo nên tín ngưỡng dân gian, ra đời các lễ hội, xuất hiện hình thức diễn xướng dân gian gắn với vụ mùa và gắn với những yếu tố của người làm nông nghiệp. Xã hội nông thôn Việt Nam có cơ cấu tổ chức, có các thiết chế xã hội, luôn mang tính tự trị và tính cộng đồng, mỗi ngôi làng đều được khép kín. Đó là nơi lưu giữ, bảo vệ văn hoá làng xã - nước chống lại sự xâm lược của ngoại xâm.
Bởi thế một nhà nghiên cứu đánh giá: “Làng xã Việt Nam là một quốc gia thu nhỏ, có đời sống vật chất và tinh thần bền vững” [5]. Còn giáo sư Ngô Đức Thịnh cho rằng: “Làng xã cổ truyền của người Việt…còn là một môi trường văn hóa, là tế bào cơ bản, là tấm gương phản chiếu nền văn hóa cổ truyền của dân tộc. Văn hóa dân tộc chỉ là sự mở rộng và nâng cao của văn hóa xóm làng” [5]. Thứ hai, làng thể hiện sâu sắc tri thức bản địa.
Các nghi lễ, các tín ngưỡng mang yếu tố tâm tinh vốn có nếu biết phát triển theo chiều hướng tích cực sẽ tạo ra được dòng chảy ý thức cho người dân sống ở nông thôn. Các lễ hội thờ các vị Thần nông, thờ Thần hoàng làng, ghi nhớ tổ nghề …là những nét văn hoá truyền thống mang tính nhân văn không chỉ giúp kết nối con người với truyền thống lịch sử mà còn động viên, khích kệ con người sống an bình, tử tế và nhân văn. Khi “lấy người dân làm trung tâm”, ở mỗi khu dân cư chúng ta cần xây dựng không gian sinh hoạt chung. Không gian sinh hoạt ấy sẽ là nơi giới thiệu, trưng bày các sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể, giới thiệu quá trình hình thành làng, xã, các phòng công vụ, các công cụ sản xuất truyền thống, giới thiệu, lưu giữa và trưng bày sản phẩm các làng nghề.
17 Thứ ba, văn hóa làng luôn chứa đựng các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể. Nhân dân trong làng kết nối lại thành cộng đồng dân cư làng, xã hội làng. Cũng tại đây, hình thành và duy trì lệ làng, hình thành các khuôn phép của làng để giúp cho người dân tiếp nhận và thực hiện pháp luật một cách tự nguyện. Trong văn hóa làng, lệ làng cũng là một nét đặc sắc ở nông thôn.
Khi đô thị được xem là hình ảnh đại diện cho trình độ phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia thì nông thôn được xem là nơi giữ gìn trọn vẹn đời sống tinh thấn và bản sắc văn hóa dân tộc và những giá trị tinh thần cốt lỗi. Trong đời sống nông thôn, không gian sống hữu hình luôn tạo ra những giá trị văn hóa trong đời sống tinh thần của người Việt. Đây chính là cơ sở hình thành các yếu tố mang tính di sản ở nông thôn Việt Nam. Nền nông nghiệp ở nông thôn là nền tảng của văn hóa nước Việt.
Dù đi qua bao thăng trầm nhưng những giá trị cơ bản của nền văn hóa Việt Nam được hình thành, và được nuôi dưỡng rồi lan tỏa qua các thế hệ bởi sự tương tác giữa các yếu tố con người, cách thức sinh sống, không gian sinh tồn nói cách khác là nông dân - nông nghiệp - nông thôn. Nông dân là nhân tố tạo nên những giá trị của văn hóa Việt Nam truyền thống người Việt từ: tình yêu quê hương đất nước; sự đoàn kết của cộng đồng, tấm lòng bao dung, độ lượng; coi trọng tình nghĩa đạo lý; lao động cần mẫn, ứng xử chân thành, khéo léo,…Khi kế sinh nhai là nghề nông, thì đời sống của họ phụ thuộc vào thời tiết, người dân luôn sống trong tình trạng lo âu, phấp phỏng theo kiểu “Trông trời, trông đất, trông mây. Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm” họ phải chung lưng đấu cật với nhau, tìm ra những phương án tối ưu nhất cho công cuộc mưu sinh. Bởi thế, mọi người có sự ràng buộc, yêu thương, thấu hiểu sâu sắc, lâu dần tạo thành những bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.
Sự phát triển văn hóa và ý nghĩa của sự phát triển kinh tế - xã hội được hình thành một phần từ bản sắc, giá trị văn hóa của con người. Trong các kế hoạch phát triển, các chiến lược của các địa phương bản sắc văn hóa luôn có những giá trị nhất định. Theo số liệu của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, cả nước hiện có khoảng hơn 5. Trong đó, ở miền Bắc số lượng làng nghề chiếm số lượng lớn 18 chiếm gần 40% và tập trung nhiều nhất là ở vùng đồng bằng sông Hồng với khoảng 1.500 làng nghề và khoảng 300 làng nghề đã được công nhận là làng nghề truyền thống.
Những làng nghề này đã tạo ra công ăn việc làm cho nhiều lao động của địa phương và cũng đóng góp lớn vào sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Nông thôn là đề tài quen thuộc trong các tác phẩm văn học. Nó được coi là mạch nguồn chảy xuyên suốt quá trình phát triển của nền văn học Việt Nam từ văn học dân gian đến văn học hiện đại. Từ sau đổi mới đến nay thì những tác phẩm tiểu thuyết về đề tài nông thôn đã thu hút được nhiều ngòi bút tác phẩm của các tác giả lớn.