Đặt vấn đề), ta có thể th y các NHTM là những tổ chức tài chính quan trọng cho nền kinh tế của từng quốc gia; do đó, hoạt động kinh doanh của những tổ chức này luôn được Nhà nước, các nhà quản trị và các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm đến. Vì vậy, lợi nhuận hoạt động, một trong những yếu tố then chốt ảnh hưởng đến tình hình tài chính, các hoạt động trong tương lai của Ngân hàng cũng như phản ánh kết quả kinh doanh của các ngân hàng đó, nên được nghiên cứu và hiểu rõ. Đề tài góp phần tổng hợp các lý thuyết về lợi nhuận của ngân hàng cũng như các nghiên cứu thực nghiệm trước đây có liên quan đến v n đề này. Đồng thời, đưa ra nhận định về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTM tại Việt Nam cũng như mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến lợi nhuận của những tổ chức này.
Từ kết quả đó, đề tài nhằm củng cố thêm bằng chứng thực nghiệm cho v n đề tác động của các yếu tố đến hệ thống NHTM Việt Nam. Giúp cho các nhà quản trị ngân hàng nhìn nhận về tầm quan trọng của từng yếu tố để từ đó đưa ra những 6 giải pháp, chính sách hiệu quả và giảm thiểu rủi ro, chi phí trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng Việt Nam. BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả chia bố cục thành 5 chương cụ thể như sau: Chƣơng 1: Giới thiệu Chương này sẽ trình bày rõ v n đề cũng như tính c p thiết của đề tài nghiên cứu, qua đó xác định mục tiêu nghiên cứu tổng quát và cụ thể cho đề tài, theo đó xác định các câu h i nghiên cứu tương ứng, cũng như đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Đồng thời, xác định phương pháp nghiên cứu, cho biết đóng góp của đề tài và bố cục của khóa luận.
Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết về lợi nhuận của ngân hàng thƣơng mại Trong chương 2, tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết cũng như các chỉ tiêu đo lường lợi nhuận các NHTM, cùng với đó đưa ra một số lý thuyết liên quan đến lợi nhuận và các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng. Từ đó, đưa ra các bằng chứng thực nghiệm trước có liên quan đến việc phân tích ảnh hưởng của những yếu tố khác nhau đến lợi nhuận ngân hàng của các tác giả ở trong và ngoài nước. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Dựa vào các lý thuyết đã được nêu ở Chương 2, trong chương này tác giả sẽ giới thiệu về mô hình nghiên cứu, giải thích các biến trong mô hình và d u kỳ vọng của các biến. Sau đó tác giả đưa ra các giả thuyết cho nghiên cứu và trình bày sơ lược về dữ liệu cũng như quy trình nghiên cứu, từ đó làm cơ sở cho việc thực hiện các chương tiếp theo.
Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trong chương này, tác giả phân tích khái quát kinh tế Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu và trình bày kết quả các bước thực hiện đã được nêu ở Chương 3, từ đó đưa ra kết quả cuối cùng của nghiên cứu và kết luận về ảnh hưởng của các yếu tố vi mô và vĩ mô lên lợi nhuận của NHTM tại Việt Nam. 8 Chƣơng 5: Kết luận và khuyến nghị Tác giả tóm tắt lại kết quả nghiên cứu được trình bày ở Chương 4, đồng thời từ đó đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị phù hợp giúp các NHTM hoạt động tại Việt Nam có thể tăng trưởng lợi nhuận và hoạt động ổn định. Bên cạnh đó, chương này cũng đưa ra các hạn chế của nghiên cứu cũng như hướng nghiên cứu mở rộng sau này. 9 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2.
Lợi nhuận của NHTM Lợi nhuận (hay còn gọi là lợi tức, hoặc lãi) nói chung là phần chênh lệch giữa thu nhập và chi phí của một doanh nghiệp, tổ chức trong một thời kỳ xác định; mà qua đó ta có thể đánh giá được hiệu quả hoạt động cũng như kết quả kinh doanh của những tổ chức, doanh nghiệp đó. B t cứ một doanh nghiệp nào khi tham gia vào thị trường chung đều dành sự quan tâm nhiều nh t đến lợi nhuận và họ luôn không ngừng tìm cách đổi mới chiến lược hoạt động nhằm gia tăng và tối đa hóa yếu tố này. Đây là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp hoạt động, cạnh tranh với nhau và cũng là một trong những chỉ tiêu quan trọng quyết định sự ―sống còn‖ đối với những tổ chức kinh tế này. Vì vậy, các NHTM tuy là những định chế tài chính với những chức năng đặc biệt và có cách thức hoạt động khác với những doanh nghiệp sản xu t, kinh doanh thông thường nhưng những trung gian tài chính này về bản ch t cũng là một tổ chức kinh tế hoạt động vì lợi nhuận với mức rủi ro ch p nhận được.
Lợi nhuận của các ngân hàng thương mại thu được từ nhiều nguồn khác nhau như: + Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh: Là khoản chênh lệch giữa doanh thu của hoạt động kinh doanh và chi phí của hoạt động kinh doanh trong cùng kì phát sinh. + Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: Là khoản chênh lệch giữa doanh thu của hoạt động tài chính và chi phí của hoạt động tài chính và thuế giản thu phải nộp trong kì theo quy định của pháp luật. + Lợi nhuận của các hoạt động khác: Là khoản chênh lệch giữa thu nhập của các hoạt động kinh tế khác và chi phí của hoạt động kinh tế khác và thuế gián thu phải nộp trong kì theo quy định pháp luật. 10 Lợi nhuận NHTM là khoảng chênh lệch được xác định là hiệu số của tổng các khoản thu nhập trừ đi các khoản chi phí hợp lí trong một khoảng thời gian nh t định, thường sẽ được đo lường trong 12 tháng.
Cụ thể theo thông tư 49/2014/TTNHNN sửa đổi, bổ sung một số điều khoản của chế độ BCTC đối với các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo quyết định số 16/2007/QĐ-NHNN ngày 18/04/2001. Từ thông tư đã nêu rõ cách tính lợi nhuận của NHTM Việt Nam như sau: “Lợi nhuận ròng = (thu nhập lãi thuần + lãi, lỗ thuần từ hoạt động dịch vụ + lãi, lỗ thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối + lãi, lỗ thuần từ mua bán chứng khoán kinh doanh+ lãi, lỗ thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư + lãi, lỗ thuần từ hoạt động khác + thu nhập từ góp vốn mua cổ phần) - tổng chi phí hoạt động - chi phí dự phòng rủi ro tín dụng - chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp” Các chỉ tiêu đo lƣờng lợi nhuận của NHTM Các chỉ tiêu thường được dùng để đo lường lợi nhuận của các NHTM trong lý thuyết và trong nghiên cứu học thuật là tỷ su t sinh lợi trên tài sản (ROA), tỷ su t sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM). Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (Return On Asset - ROA) là thước đo thông dụng nh t về lợi nhuận, thể hiện tính hiệu quả của quá trình tổ chức, quản lý hoạt động sản xu t kinh doanh của doanh nghiệp, cho biết cứ một đồng tài sản được sử dụng trong quá trình sản xu t kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. ROA lớn có nghĩa là hoạt động đầu tư, khai thác tài sản của ngân hàng đang được thực hiện một cách hiệu quả, mang lại lợi nhuận cao.
Ngược lại, tỷ lệ ROA th p cho th y việc đầu tư không mang lại lợi nhuận như mong đợi. Tuy nhiên, không phải lúc nào ROA cao cũng là tốt, vì trong trường hợp đó có thể ngân hàng đang sở hữu một khoảng đầu tư với tỷ su t sinh lợi lớn nhưng chứa đựng các rủi ro tiềm ẩn cao. ROA được tính bằng cách l y lợi nhuận sau thuế chia cho bình quân tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp, công thức tính như sau: 11 Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (Return On Equity - ROE) đo lường tỷ lệ lợi nhuận của các cổ đông ngân hàng, thể hiện thu nhập mà họ nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng. ROE cho biết một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, biểu thị khoản sinh lời của các nhà đầu tư nhận được từ vốn cổ phần tại ngân hàng.
Tương tự như ROA, ROE càng lớn thì lợi nhuận đem lại cho các cổ đông càng cao. Phân tích ROE sẽ giúp cho các ngân hàng nhận biết những điểm mạnh cũng như điểm yếu trong hoạt động ngân hàng nói chung và lợi nhuận của ngân hàng nói riêng. Chỉ số này được tính bằng cách l y lợi nhuận ròng sau thuế chia cho tổng giá trị vốn chủ sở hữu bình quân, công thức tính như sau: Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (Net Interest Margin - NIM) là thước đo tính hiệu quả cũng như lợi nhuận, chỉ ra năng lực của hội đồng quản trị cũng như nhân viên ngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu so với mức tăng của các khoản chi phí. Biên độ được tính cho một khoảng thời gian cụ thể như một quý hoặc một năm.
Vì NIM đo lường mức chênh lệch giữa thu nhập từ lãi và chi phí trả lãi thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí th p nh t, do đó tỷ lệ này càng cao thì lợi nhuận của ngân hàng càng cao. Thông qua tỷ lệ này, ngân hàng có thể kiểm soát tài sản sinh lời và đánh giá nguồn vốn nào có chi phí th p nh t. NIM được tính bằng cách l y thu thập lãi thuần (bằng thu nhập lãi trừ cho chi phí lãi) chia cho tổng tài sản sinh lời, chỉ số này được tính như sau: 12 2. Một số lý thuyết liên quan đến lợi nhuận của NHTM 2.
Lý thuyết về quyền lực thị trƣờng Quyền lực thị trường có thể được hiểu là khả năng thay đổi giá cả thị trường của một công ty, doanh nghiệp trong một ngành, nghề xác định trên thị trường. Một doanh nghiệp được mô tả là có quyền lực thị trường thường có thể sử dụng quyền lực của mình để tác động lên giá cả cũng như ch t lượng sản phẩm bán ra mà không lo sợ việc bị m t đi khách hàng; từ đó tác động lên các doanh nghiệp cùng ngành, buộc họ phải chịu mức giá và mức lợi nhuận th p hơn để cạnh tranh.