Chương 1 chỉ ra tầm quan trọng cũng như tính cấp thiết của việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến HQHĐ của các ngân hàng TMCP Việt Nam. Từ mục tiêu nghiên cứu tổng quát, đề tài đưa ra 03 mục tiêu nghiên cứu cụ thể và sẽ được giải quyết thông qua 03 câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Tiếp theo, đề tài trình bày đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là 25 NHTMCP tại Việt Nam trong 09 năm, giai đoạn từ 2011 – 2019. Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng dựa trên nền tảng thừa kế và mở rộng các nghiên cứu trước đó để cập nhật các nhân tố ảnh hưởng đến HQHĐ có thể thay đổi theo thời gian.
Cuối cùng, chương này trình bày kết cấu khóa luận gồm 05 chương và sơ lược về nội dung chính của mỗi chương. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM VÀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN Chương 2 sẽ thực hiện khảo lược cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm trong và ngoài nước về sự ảnh hưởng của các nhân tố vi mô và nhân tố vĩ mô đến HQHĐ tại các NHTM, qua đó chương này sẽ thảo luận để xác định khoảng trống nghiên cứu và thiết kế mô hình nghiên cứu cho đề tài cho trường hợp các NHTM.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HQHĐ của NHTM 2.1 Khái niệm về HQHĐ Hiệu quả theo ý nghĩa chung nhất là các lợi ích kinh tế, xã hội đạt được từ quá trình hoạt động kinh doanh mang lại. Hiệu quả kinh doanh bao gồm hai mặt là hiệu quả kinh tế (phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực của doanh nghiệp hoặc của xã hội để đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất) và hiệu quả xã hội (phản ánh những lợi ích về mặt xã hội đạt được từ quá trình hoạt động kinh doanh), trong đó hiệu quả kinh tế có ý nghĩa quyết định. Theo quan điểm truyền thống hiệu quả kinh tế của một quá trình được định nghĩa là biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó.
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có vai trò, chức năng đặc biệt trong nền kinh tế. Kết quả hoạt động của ngân hàng có thể được đo lường, đánh giá trên những góc độ khác nhau. Dưới góc độ kinh doanh của ngân hàng, đó chính là HQHĐ. HQHĐ của ngân hàng có thể được xem là kết quả về lợi nhuận do hoạt động kinh doanh ngân hàng mang lại trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo Nguyễn Việt Hùng (2008), trong hoạt động của NHTM, theo lý thuyết hệ thống thì HQHĐ có thể được hiểu ở hai khía cạnh như sau: Thứ nhất là khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lợi hoặc giảm thiếu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác, thứ hai là xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng. HQHĐ của ngân hàng đã là chủ đề lớn được thảo luận trong các nghiên cứu trước đó. Khủng hoảng tài chính gần đây đã chứng minh tầm quan trọng của lĩnh vực ngân hàng đối với nền kinh tế. Athanasoglou và cộng sự (2005) chỉ ra sự ổn định của hệ thống 7 tài chính là phụ thuộc vào lợi nhuận lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt là trong các thời kỳ khó khăn, suy thoái.
Vì vậy, có nhiều bên liên quan (viện nghiên cứu, các nhà đầu tư…) quan tâm đến HQHĐ của các ngân hàng. Rose giáo sư kinh tế học và tài chính trường đại học Yale thì về bản chất ngân hàng thương mại cũng có thể được coi như một tập đoàn kinh doanh và hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép. Tuy nhiên, khả năng sinh lời là mục tiêu được các ngân hàng quan tâm hơn cả vì thu nhập cao sẽ giúp các ngân hàng có thể bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị phần, thu hút vốn đầu tư. Theo Aubyn và cộng sự (2009), hiệu quả về cơ bản là sự so sánh giữa đầu vào được sử dụng trong một số hoạt động và kết quả được tạo ra.
Theo Nguyễn Khắc Minh (2004), hiệu quả trong kinh tế được định nghĩa là “mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hoá và dịch vụ” và “khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào”. Như vậy, hiệu quả có thể được hiểu là mức độ thành công mà các ngân hàng đạt được trong việc phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà ngân hàng cung cấp, nhằm đáp ứng một mục tiêu nào đó. Theo Antonio, Ludger và Vito (2006) thì “Hiệu quả là phép so sánh giữa đầu vào và đầu ra hay giữa lợi nhuận và chi phí. Với cùng đầu vào cho trước, hoạt động nào tạo ra đầu ra lớn hơn sẽ là hoạt động hiệu quả hơn”.
Theo Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, kinh tế lượng Anh – Việt (PGS.TS Nguyễn Khắc Minh, 2004), hiệu quả là “mức độ thành công mà các doanh nghiệp hoặc các ngân hàng đạt được trong việc phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, đáp ứng mục tiêu đã định trước”. Phân tích HQHĐ của NHTM chính là phân tích năng lực tài chính, năng lực điều hành, xem xét, đánh giá quá trình thực hiện chiến lược kinh doanh và phát hiện những sai lệch so với kế hoạch, xác định nguyên nhân và đề ra biện pháp xử lý kịp thời, đúng lúc nhằm đảm bảo hiệu quả cho hoạt động kinh doanh của các NHTM để đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa. Ngoài ra, việc phân tích HQHĐ là căn cứ xác thực, quan trọng cho việc dự đoán, dự báo xu thế phát triển kinh doanh của ngân hàng. Từ đó, nhà quản trị sẽ hoạch định và đưa ra các quyết định chiến lược kinh doanh có hiệu quả hơn.2 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại được đánh giá thông qua năng lực tài chính của ngân hàng được thể hiện ở các chỉ tiêu giới thiệu trong phần này và năng lực về hoạt động kinh doanh được thể hiện thông qua việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong phần tiếp theo.
Để đảm bảo cho hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại được ổn định và ngày càng phát triển thì việc phải đảm bảo về các chỉ tiêu an toàn trong hoạt động ngân hàng là điều cần thiết.1 Các chỉ tiêu đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại ❖ Chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng nhằm đánh giá mức độ an toàn về vốn của các ngân hàng thương mại, Tỷ số này giúp xác định khả năng bù đắp các rủi ro bằng nguồn vốn tự có của ngân hàng. Vốn tự có Tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu = Tổng tài sản có rủi ro Vốn tự có của ngân hàng bao gồm vốn tự có cấp 1 và vốn tự có cấp 2. Trọng tâm của vốn tự có cấp 1 là vốn điều lệ và các quỹ dự trữ. Đây là nguồn vốn cơ bản quyết định sự tồn tại của mọi hệ thống ngân hàng.
Nó có vai trò quan trọng trong việc tạo ra lợi nhuận và khả năng cạnh tranh cho ngân hàng thương mại. Vốn tự có cấp 2 là nguồn vốn bổ sung, bao gồm vốn do đánh giá lại tài sản cố định và các khoản khác như khoản nợ được xem như vốn. Tài sản có rủi ro là những khoản mục tài sản có được phản ánh trong và ngoài bảng tổng kết tài sản có thể bị tổn thất trong quá trình kinh doanh như cho vay không thu được nợ, ngân hàng phải trả tiền thay khách hàng được bảo lãnh. Dựa vào hình thức quản lý tài sản, tài sản có rủi ro bao gồm tài sản có rủi ro nội bảng và tài sản có rủi ro ngoại bảng.
Ngoại trừ các tài sản được xem như không có rủi ro như tiền mặt, tiền gửi tại ngân hàng nhà nước, mỗi tài sản có còn lại đều có mức độ rủi ro nhất định. Thông thường rủi ro được chia thành mức 0%, 20%, 50%, 100% tương 9 ứng với các xếp loại tài sản có bình thường, tài sản có kém tiêu chuẩn, tài sản có nghi ngờ và tài sản có mất trắng. Các hoạt động ngoại bảng ngày càng nhiều và có rủi ro làm ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của ngân hàng không kém gì các tài sản nội bảng, do đó phải đánh giá các rủi ro của tài sản ngoại bảng để đảm bảo an toàn về vốn. Tất cả các cam kết ngoại bảng phải được chuyển đổi thành lượng tín dụng tương đương bằng cách nhân lượng tài sản ngoại bảng với hệ số chuyển đổi tương ứng.
Hệ thống chuyển đổi được tính cho từng giao dịch ngoại bảng khác nhau. Sau đó nhân với hệ số rủi ro tùy theo việc ước tính rủi ro tín dụng đối với từng giao dịch ngoại bảng để có được tổng tài sản có rủi ro ngoại bảng. ❖ Giới hạn tín dụng đối với khách hàng Để kiểm soát và hạn chế rủi ro về tín dụng, ngân hàng nhà nước đã quy định giới hạn tín dụng đối với khách hàng. Căn cứ vào tỷ lệ dư nợ của từng khách hàng hay nhóm khách hàng mà ngân hàng thương mại có cách tổ chức theo dõi riêng.
Quy định cụ thể giới hạn tín dụng đối với khách hàng được thể hiện rõ ở Thông tư số 36/2014/TT-NHNN ban hành ngày 20/11/2014. ❖ Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn để sử dụng cho vay trung dài hạn Để hoạt động kinh doanh của ngân hàng được diễn ra thông suốt, cần phải cân đối được nguồn vốn huy động và cho vay. Mọi ngân hàng đều nhận thấy rằng dùng tiền gửi ngắn hạn để cho vay trung dài hạn đều đem lại khoản lợi nhuận tối đa. Khi thực hiện nghiệp vụ này ngân hàng có một niềm tin là khách hàng sẽ gửi lại số tiền đó khi đáo hạn nhưng chẳng may ngân hàng không giữ được sự tín nhiệm, khách hàng sẽ kéo nhau đến rút tiền trong khi đó các khoản cho vay trung dài hạn không thể nào thu hồi ngay được và kết quả là sự vỡ nợ chắc chắn không thể tránh khỏi.
Do đó ngân hàng một mặt tối đa hóa lợi nhuận, mặt khác phải đảm bảo an toàn.