chương 1 làm cơ sở và là nền tảng giúp tác giả hoàn thành toàn bộ nội dung chi tiết trong đề tài nghiên cứu. 7 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ THUYÉT VÀ CÁC NGHIÊN cứu TRƯỚC 2.1 Cơ sở lý thuyết về hoạt động huy động vốn ten gửi cũa NHTM 2.1 Khái niệm hoạt động huy động von tiền gửi của NHTM Nguồn vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động hoặc tạo lập được để cho vay, đầu tư và thực hiện các dịch vụ ngân hàng khác. Nguồn vốn của NHTM bao gồm vốn tự có do NHTM tự tạo lập từ ban đầu, thuộc sở hữu riêng của ngân hàng, phản ánh thực lực tài chính của ngân hàng; vốn huy động là vốn mà ngân hàng huy động được từ công chúng, mang tính chất tạm thời quản lý và phải có nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ khi khách hàng yêu cầu thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ tiền gửi, tiền vay, thanh toán, nghiệp vụ kinh doanh khác; vốn đi vay là vốn có được từ quan hệ vay mượn trên thị trường liên ngân hàng và các nguồn vốn khác thông qua việc cung cấp các phương tiện thanh toán và cung cấp các dịch vụ ủy thác đầu tư (Nguyễn Thị Tuyết Nga, 2016) Khoản mục tiền gửi thường chiếm tỷ lệ lớn trong tổng tài sản nợ của ngân hàng. Điều này cho thấy điểm khác biệt giữa ngân hàng với các doanh nghiệp khác khi mà vốn huy động từ tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng.
Các ngân hàng chủ yếu sử dụng nguồn vốn huy động tiền gửi để thực hiện các hoạt động kinh doanh khác và tạo ra lợi nhuận. Theo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 do Quốc Hội ban hành ngày 16/06/2010, nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. Theo Nguyễn Thị Tuyết Nga (2016), “tiền gửi được giữ trong tài khoản tại một ngân hàng, dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Chủ tài khoản có quyền rút tiền theo quy định tại điều khoản đã thống nhất”.
8 Từ những khái niệm trên, có thể khái quát “Hoạt động huy động vốn tiền gửi của NHTM là hoạt động mà NHTM thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ các cá nhân, tổ chức dưới nhiều hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác nhằm mục đích kinh doanh và theo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận”.2 Nguyên tắc huy động von tiền gửi tại NHTM Khi thực hiện hoạt động huy động vốn tiền gửi, các NHTM phải tuân theo các nguyên tắc sau: Tuân thủ và thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật về hoạt động huy động tiền gửi như lãi suất trần huy động, tỷ lệ nguồn vốn huy động so với vốn tự có (Nguyễn Thị Tuyết Nga, 2016) Cân đối nguồn vốn và dự trữ hợp lý và ổn định, đảm bảo tính thanh khoản của ngân hàng kịp thời, tránh ảnh hưởng tới tâm lý khách hàng khi có thông tin sai lệch, dẫn tới khách hàng rút tiền hàng loạt, gây nguy co đổ vỡ hệ thống. Đa dạng danh mục sản phẩm tiền gửi để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh và đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của khách hàng.3 Các hình thức huy động von tiền gửi tại ngân hàng thương mại Vốn huy động chủ yếu thông qua hai phưong thức: huy động vốn tiền gửi và huy động thông qua phát hành giấy tờ có giá. Trong đó, hoạt động huy động vốn tiền gửi vẫn là hoạt động cổ điển và quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động ở moi NHTM. về co bản dựa trên bản chất hoạt động, có thể phân loại thành các hình thức huy động tiền gửi như sau: 2.
ỉ Tiền gửi không kỳ hạn Tiền gửi thanh toán\ là khoản tiền mà khách hàng gửi vào nhằm mục đích sử dụng 9 các dịch vụ thanh toán của NHTM. Khách hàng có thể rút bất kỳ khi nào có nhu cầu nên tính ổn định thấp. Vì vậy, tài khoản này thường không được trả lãi hoặc được trả lãi nhưng với lãi suất rất thấp. Các công cụ được sử dụng đối với khản tiền gửi này là ủy nhiệm chi, séc và các lệnh khác,.NHTM tạm thời có thể sử dụng nguồn vốn giá rẻ này trong ngắn hạn.
Điều kiện đảm bảo cho khách hàng sử dụng tiền một cách linh hoạt. Tiền gửi không kỳ hạn có trả lãi: là khoản tiền nhàn rỗi mang tính tạm thời, được được khách hàng gửi vào ngân hàng nhằm mục đích tiết kiệm, đảm bảo an toàn, thuận tiện cho tài sản của khách hàng mà không nhằm mục đích thực hiện các dịch vụ thanh toán của NHTM.2 Tiền gửi có kỳ hạn Tiền gửi có kỳ hạn là loại huy động tiền gửi có sự thỏa thuận của khách hàng và ngân hàng về thời hạn rút tiền. Khách hàng chỉ được rút tiền khi đến hạn theo thỏa thuận. Khách hàng vẫn được phép rút tiền trước hạn nhưng chỉ hưởng mức lãi suất rất thấp, có thể là lãi suất phạt.
Đây là loại tiển gửi có đặc điểm xác định trước thời hạn khá chắc chắn, có tính ổn định cao và làm cơ sở cho NHTM hoạch định các chiến lược quản trị nguồn vốn, giúp NHTM chủ động hơn khi sử dụng nguồn vốn này với mức dự trữ thấp. Tuy nhiên, để huy động được nguồn tiền gửi này, NHTM thường chịu chi phí cao do sự cạnh tranh lãi suất, lãi suất này cao hơn so với lãi suất các loại hình huy động tiền gửi khác.3 Tiển gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kì lúc nào. Khách hàng gửi tiền tiết kiệm không kỳ hạn với mục đích an toàn và sinh lợi nhưng không thiết lập kế hoạch sử dụng tiền gửi trong tương lai (Nguyễn Minh Kiều, 2008). Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn khác với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn ở chỗ: tài khoản tiền gửi tiết kiệm không được sử dụng để phát hành séc và thực hiện các công cụ dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt để chi trả.
10 Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Khách hàng gửi tiền nhằm mục đích kiếm lời. Đặc điểm của tiền gửi này là có tính an toàn và ổn định cao, lãi suất chi trả cũng khá cao so vói các hình thức khác nhằm thu hút nguồn vốn ổn định và gia tăng sự cạnh tranh trên thị trường. Tiền gửi tiét kiệm có kỳ hạn khác với tiền gửi có kỳ hạn chỉ ỏ chổ khách hàng gửi tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn chỉ có thể là cá nhân.
Tiền gửi tiết kiệm chủ yếu hiện nay gồm hai hình thức chính: tiết kiệm lập sổvà tiết kiệm điện tử.4 Vai trò của hoạt động huy động von tiền gửi -Đối vói nền kinh tế: Huy động vốn tiền gửi đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trên thị trường để đáp ứng nhu cầu đầu tư của các cá nhân, tổ chức, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và phát triển nền kinh tế. Hoạt động này cũng là một trong những kênh truyền dẫn chính sách quản lý vĩ mô và chính sách tiền tệ của chính phủ trong việc kiểm soát lượng tiền mặt lưu thông trên thị trường, kiểm soát khối lượng tiền giao dịch thanh toán của nền kinh té. -Đối với NHTM: NHTM sử dụng nguồn vốn huy động từ tiền gửi để cho vay, đầu tư và thực hiện các dịch vụ khác nhằm mục tiêu tạo ra lợi nhuận. Do vậy, đây là hoạt động đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
Một ngân hàng có nguồn vốn huy động lớn sẽ có khả năng mở rộng quy mô, chủ động trong việc phát triển các hoạt động kinh doanh và có khả năng cạnh tranh cao so với các NHTM khác trên thị trường. Hoạt động huy động vốn tiền gửi cũng tạo nguồn vốn rẻ hơn so với nguồn vốn chủ sở hữu. Lãi suất trả cho người gửi tiền rẻ hơn nhiều so với việc trả lợi tức cho các cổ đông. Khi mà hoạt động huy động vốn tiền gửi hiệu quả sẽ làm giảm chi phí huy động của ngân hàng.
-Đối với khách hàng: Khách hàng sử dụng các sản phẩm tiền gửi sẽ đảm bảo an toàn cho khoản tiền của mình, hạn chế các rủi ro mất cắp và đáp ứng được nhu cầu tiết kiệm, tích lũy vốn để thực hiện các dự định trong tương lai. Đối những khoản tiền gửi được trả lãi thì đây là một kênh an toàn để đầu tư sinh lời, tạo cơ hội có thể 11 gia tăng tiêu dùng trong tương lai (Nguyễn Minh Kiều, 2008). Ngoài ra, việc thực hiện các giao dịch tại các NHTM cũng rất thuận tiện, nhanh chóng, có thể rút ra khi có nhu cầu của khách hàng khi mà các ngân hàng này đang phát triển nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại kèm theo như ngân hàng điện tử, ATM, chiết khấu, cầm cố,.2 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động huy động vốn tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng thưong mại 2.1 Các chỉ tiêu định lượng 2. ỉ Chỉ tiêu phản ánh số lượng và cơ cấu khách hàng cá nhân - Số lượng khách hàng cá nhân gửi tiền tiết kiệm hàng năm Số lượng khách hàng gửi tiền ảnh hưởng đến mở rộng huy động vốn.
số lượng khách hàng tăng phản ánh việc huy động vốn được mở rộng, không những thế số lượng khách hàng gia tăng còn thể hiện lòng tin của khách hàng vào ngân hàng. Các NHTM xác định số lượng khách hàng bằng cách thống kê so CIF (customer information file) của các khách hàng có quan hệ tiền gửi với ngân hàng được tạo ra trong từng giai đoạn. So CIF là mã số do hệ thống mạng điện tử của ngân hàng tự động tạo ra khi khách hàng đến giao dịch lần đầu tiên với ngân hàng.