Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Trong chương này, trình bày tóm tắt toàn bộ nội dung của các chương đã thực hiên hay nói cách khác là giới thiệu chung về đề tài thực hiện để người đọc có thể khái quát được toàn bộ bài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận về khả năng trả nợ đúng hạn của KHCN. Trong chương này, ngoài trình bày cơ sở lý luận và lý thuyết về tín dụng khách hàng cá nhân, khả năng trả nợ đúng hạn của KHCN và các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ đúng hạn của KHCN, còn trình bày các công trình nghiên cứu trước đây liên quan nhằm kế thừa có chọn lọc về mặt lý luận làm cơ sở thực hiện chương 3.
Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu. Trong chương này, luận văn trình bày các mô hình nghiên cứu, dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu cũng như mô hình được sử dụng trong bài nghiên cứu dựa trên nền tảng các công trình trước đây đã nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ đúng hạn của KHCN. z 6 Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Trong chương này, luận văn trình bày về kết quả nghiên cứu cũng như phân tích sâu hơn về nhân tố ảnh hưởng và giải thích về các nhân tố không ảnh hưởng đến khả năng trả nợ đúng hạn của KHCN.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị nhằm xây dựng các tiêu chí chọn lọc khách hàng góp phần hạn chế rủi ro trả nợ trễ hạn và nâng cao khả năng trả nợ đúng hạn của KHCN tại Sacombank. z 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG TRẢ NỢ ĐÖNG HẠN CỦA KHCN Chương này tập trung vào ba nội dung chính. Nội dung thứ nhất trình bày lý thuyết về tín dụng cá nhân, khả năng trả nợ đúng hạn của KHCN và mối quan hệ giữa khả năng trả nợ đúng hạn của KHCN với rủi ro tín dụng. Nội dung thứ hai đề cập tới các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ đúng hạn của KHCN.
Và cuối cùng, tóm tắt một số nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ đúng hạn của KHCN nhằm rút ra cơ sở đề xuất cho mô hình nghiên cứu ban đầu.1 Tổng quan về nghiệp vụ tín dụng đối với KHCN Tín dụng là quan hệ ra đời gắn liền với sản xuất và lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế. Tín dụng bắt nguồn từ chữ Credit – Creditum, hay được hiểu đơn giản là một quan hệ sử dụng sự tín nhiệm. Có thể xem xét khái niệm tín dụng dưới nhiều góc độ và trong những bối cảnh khác nhau, chẳng hạn trên thị trường tài chính, theo nguồn gốc lịch sử,… Trong phạm vi bài nghiên cứu này, chúng ta chỉ tập trung vào quan hệ tín dụng ngân hàng, trong đó cụ thể tập trung vào chủ thể vay vốn là tín dụng cá nhân.1 Khái niệm tín dụng cá nhân Theo Nguyễn Minh Kiều (2011), Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định. Theo Bùi Diệu Anh (2009), Tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân và các chủ thể khác) sử dụng nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Theo Luật các tổ chức tín dụng (2010,điều 4), “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một khoản z 8 tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” Mặc dù có khá nhiều định nghĩa về tín dụng ngân hàng nhưng nhìn chung tín dụng ngân hàng chứa đựng các nội dung sau: - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng. - Sự chuyển nhượng này có thời hạn hay mang tính tạm thời. - Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí và rủi ro. Nếu căn cứ vào chủ thể vay vốn thì tín dụng cá nhân là một bộ phận của tín dụng ngân hàng, trong đó KHCN là các cá thể hoặc hộ gia đình.
Tín dụng cá nhân là các khoản cho vay trong đó ngân hàng thương mại đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho KHCN sử dụng trong một thời hạn nhất định phải hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích tài trợ cho nhu cầu vốn cá nhân, hộ gia đình. Nhu cầu vốn cá nhân, hộ gia đình chủ yếu là nhu cầu tiêu dùng như mua sắm, xây dựng, sửa chữa nhà cửa, ô tô,… và nhu cầu phục vụ sản xuất kinh doanh theo quy mô hộ gia đình. Tín dụng cá nhân tại các ngân hàng thương mại đã góp phần rất lớn trong việc lưu thông các nguồn vốn của xã hội và đây cũng là một thị trường tiềm năng tại Việt Nam mà các ngân hàng đang hướng đến khai thác và phát triển.2 Đặc điểm tín dụng cá nhân Ngoài một số đặc điểm giống như đặc điểm chung của tín dụng ngân hàng, hoạt động tín dụng cá nhân còn mang một số đặc điểm riêng như sau: Thứ nhất về đối tượng của cho vay khách hàng cá nhân: Đối tượng của cho vay khách hàng cá nhân là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu vay vốn sử dụng cho những mục đích sinh hoạt tiêu dùng hay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân hay hộ gia đình đó. Khác với các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế, KHCN thường có số lượng rất lớn, nhu cầu vay vốn rất đa dạng nhưng thông z 9 thường nhu cầu vay vốn của mỗi cá nhân là không thường xuyên và chịu ảnh hưởng lớn bởi môi trường kinh tế, văn hóa – xã hội.
Thứ hai về thời hạn vay vốn: Thời hạn vay vốn tùy thuộc vào từng mục đích vay vốn và hình thức vay mà các khoản vay của khách hàng cá nhân có thời hạn ngắn, trung hay dài hạn. Thứ ba về quy mô và số lượng các khoản vay: Quy mô của mỗi khoản vay của KHCN thường nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn. Nhìn chung, giá trị các khoản vay cá nhân tương đối nhỏ hơn so với cho vay doanh nghiệp. Điều này một phần do giá trị hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng ở mức vừa phải bên cạnh đó đa số các khách hàng vay vốn đã có sự tích lũy từ trước đối với các tài sản có giá trị lớn, họ chỉ tìm đến ngân hàng với mục đích hỗ trợ một phần nhu cầu vốn còn thiếu.
Tuy quy mô khoản vay này là nhỏ nhưng tổng quy mô cho vay của ngân hàng lại rất lớn, do số lượng khách hàng có nhu cầu vay vốn tín dụng cá nhân lớn. Thứ tư về lãi suất: Lãi suất cho vay của các khoản vay KHCN thường cao hơn các khoản vay khác của ngân hàng thương mại do các chi phí của cho vay KHCN lớn. Đặc điểm này có nguồn gốc từ tín dụng cá nhân có số lượng khách hàng rất nhiều tuy nhiên quy mô mỗi khoản vay thường nhỏ do đó ngoài tốn kém về chi phí thẩm định và xét duyệt cho vay, chi phí quản lý hồ sơ,… ngân hàng còn tốn kém về chi phí chăm sóc khách hàng, chi phí quảng cáo, tiếp thị, chi phí nguồn nhân lực,… Để bù đắp chi phí và thu về lợi nhuận, ngân hàng thường đặt ra mức lãi suất cao tuy nhiên KHCN lại thường quan tâm đến khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng. Thứ năm về nguồn trả nợ: Nguồn trả nợ của KHCN khá đa dạng như nguồn thu nhập từ lương, từ hoạt động kinh doanh, từ cho thuê tài sản,., Nguồn trả nợ này có thể có những biến động lớn, phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của họ.
Thứ sáu về nhu cầu vay: Nhu cầu vay của khách hàng cá nhân có thể phục vụ cho tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh tuy nhiên chủ yếu hướng tới tiêu dùng do z 10 nhu cầu đa dạng trong đời sống của KHCN cùng với sự phát triển của xã hội người dân càng có xu hướng vay vốn để nâng cao đời sống, trong khi các sản phẩm tín dụng doanh nghiệp thì phuc vụ chủ yếu cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Thứ bảy về rủi ro: Rủi ro trong cho vay đối với KHCN cao hơn cho vay doanh nghiệp. Điều này xuất phát từ các nguyên nhân sau: - Lãi suất cho vay của KHCN thường cao hơn so với khách hàng doanh nghiệp. Đặc biệt đối với các khoản vay không có tài sản đảm bảo hay vay tín chấp thì lãi suất thường cố định do đó nguy cơ về rủi ro lãi suất đối với KHCN thường cao hơn.
- Chất lượng thông tin khách hàng cung cấp thường không cao. Tư cách khách hàng là yếu tố quan trọng tuy nhiên lại là yếu tố định tính, phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của người thẩm định. Đồng thời khả năng hoàn trả vốn vay đối với các khoản cho vay cá nhân phụ thuộc vào thu nhập của người đi vay. Tuy nhiên, đối với những KHCN có thể do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan mà họ không thể thực hiện trả nợ hoặc trì hoãn trả nợ, từ đó gây ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay của ngân hàng.
Nhân tố chủ quan có thể là tình trạng tài chính của người đi vay, công việc làm ăn không tốt,… ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực tài chính của khách hàng, từ đó giảm khả năng thực hiện trả nợ của khách hàng. Nhân tố khách quan như hạn hán, mất mùa, sự suy thoái của nền kinh tế dẫn đến khả năng mất việc cao,… cũng là những nguy cơ ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả của khách hàng. Thứ tám, lợi nhuận từ tín dụng cá nhân lớn. Đặc điểm này xuất phát từ lãi suất của các khoản tín dụng cá nhân phần lớn đều cao hơn các khoản tín dụng khác của ngân hàng thương mại.
Bên cạnh đó, thông qua tín dụng cá nhân giúp cho các ngân hàng thương mại bán chéo được sản phẩm như: bảo hiểm, thẻ, ngân hàng điện tử,… tăng nguồn thu cho ngân hàng.3 Các sản phẩm của tín dụng cá nhân Các sản phẩm cho vay dành cho KHCN thường được phát triển và thiết kế tương tự như sản phẩm tín dụng truyền thống nhưng có những nét đặc thù riêng của từng ngân hàng thương mại (Nguyễn Minh Kiều 2011).