bY LUAN VAN HOC SOSANH rat NHA XUAT BAN KHOA HOC XÃ HỘI Ÿ HÀ NỘI- 1998 NGUYEN VAN DAN THE THEORY OF COMPARATIVE LITERATURE (2"4 edition revised and complemented) SOCIAL SCIENCES PUBLISHERS HANOI - 1998 NGUYEN VAN DAN _ LÝLUẬN- VAN HOC SO SANH (Tái bản có bổ sung và sửa chữa) NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI HÀ NỘI - 1998 LOI NOI DAU Cuốn sách Lý luận văn học so sánh ra đời lần này là kết quả của một giai đoạn tiếp nối nghiên cứu mới của chúng tôi, đông thời cũng là kết quả kinh nghiệm thực tiên của chúng tôi trong quá trình giảng đạy chuyên đề văn học so sánh cho các lớp cao học và nghiên cứu sinh trong mấy năm vừa qua. Năm 1995, chúng tôi đã cho ra mất độc giả cuốn sách Những vấn đề lý luận của văn học so sánh do Nxb. KHXH ấn hành. Từ đó đến nay, tình hình nghiên cứu và giảng đạy lý luận văn học so sánh ngày càng được chú ý nhiều hơn, các ý tưởng ngày càng đi đến chỗ gặp nhau hơn.
Tuy nhiên những ý kiến khác nhau vẫn chưa phải là đã hết, và các cuộc tranh luận vẫn luôn luôn được để mở. Chính vì vậy mà chúng tôi cho tái bản cuốn sách nói trên, có sự bổ sung và chỉnh lý đáng kể, mà sự chính lý rõ rệt nhất là việc sửa lại tên cuốn sách thành Lý luận văn học so sánh. VớI cái tên mới này, chúng tôi muốn khẳng định địa vị chính thức của bộ môn văn học so sánh trong nghiên cứu và giảng đạy văn học ở nước ta. Và cơ bản, cuốn sách Lý luận văn học so sánh không khác gì nhiều so với cuốn Những vấn đề lý luận của văn 5 học so sánh.
Nhưng nó có một số điểm mới là những tư liệu mới được đưa thêm vào, một số khái niệm được chỉnh lý lại cho chính xác bơn, một số lập luận được bổ sung thêm để làm cho các sự việc và vấn đề trở nên rõ rằng hơn, có sức thuyết phục hơn, (như các khái niệm thuộc đối tượng của văn học so sánh, quan niệm về trường phái văn học so sánh, khái niệm văn học thế giới, vị trí của văn học so sánh, tình hình nghiên cứu văn học so sánh ở Việt Nam, về việc so sánh Truyện Kiều với Kim Vân Kiêu truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, v.) Tóm lại, căn cứ chính của cuốn sách lần này vẫn là cuốn sách cũ. Nhưng những gì được bổ sung và chỉnh lý cũng không kém phần quan trọng, chúng sẽ chứng tỏ là có một phần đóng góp tích cực cho việc hoàn thiện lý luận của văn học so sánh. Và ở đây, một lần nữa chúng tôi cũng xin nhắc lại lời cảm ơn chân thành của chúng tôi đối với G5. Hoàng Trinh cùng nhiều nhà khoa học khác, những người đã giúp đỡ và đóng góp những ý kiến quý báu cho chúng tôi để chúng tôi hoàn thành công trình này.
Hà Nội, tháng 3-1228 Tác giả CHƯƠNGI _, VI MOT QUAN NIEM DUNG ` VE VAN HOC SO SANH 1. Lịch sử bình thành bộ môn văn học so sánh trên thế giới. Thuật ngữ và định nghĩa. Trên thế giới hiện nay, thuật ngữ "văn học so sánh" đã trở nên rất quen thuộc trong giới nghiên cứu và giảng dạy văn học.
Trong các trường đại học ở hầu hết các nước phương Tây đều có bộ môn văn học so sánh. Bộ môn này được coi là đã tồn tại hơn một trăm năm. Thế giới đã có Hiệp hội Văn học So sánh quốc tế được thành lập từ 1950 và đã họp 15 kỳ đại hội (Việt Nam đã tham gia hai kỳ: kỳ thứ l0 năm 1982 va ky thứ J5 mới đây là tháng 8-1997 tại Hà Lan). Vậy mà cho đến nay ở nước ta, tại khoa văn của các trường đại học vẫn chưa có bộ môn văn học so sánh.
Năm1989, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã thành lập Trung tâm Văn học So sánh, nhưng nói chung, frung tâm này vẫn chưa làm được gì đáng kể về mặt học thuật. Và trong giới nghiên cứu, cho đến nay vẫn không phải là không còn người chưa phân biệt được văn học so sánh với so sánh văn học. Do đó, 7 có thể nói việc tìm hiểu và xây dựng bộ môn văn học so sánh vẫn còn là một vấn đề thời sự. Vậy tại sao có bộ môn văn học so sánh và văn học so sánh là gì? Văn học so sánh ban đầu chỉ là một phương pháp.
Trong cuộc sống hàng ngày, so sánh là một yêu cầu tự nhiên, là một trong những phương pháp để xác định sự vật vẻ mặt định tính, định lượng hoặc ngôi thứ. Còn trong nghiên cứu văn học, nó là một phương pháp dùng để xác định đánh giá các hiện tượng văn học trong mối quan hệ giữa chúng với nhau. Việc này đã được tiến hãnh từ thời Phục Hưng. Tuy nhiên, khí ấy, phương pháp so sánh mới chỉ được áp dụng một cách tự phát, đơn sơ, chưa có cơ sở khoa học.
Đến thé ky XVIII, chủ nghĩa tư bản bất đầu được hình thành ở phương Tây. Điều kiện cho chủ nghĩa tư bán phát triển là phải có sự trao đổi xà giao lưu quốc tế. Tình trạng cô lập của chế độ phong kiến cát cứ đã trở thành một vật cản chủ chốt cho sự phát triển của xã Hội tư bản. Giao lưu kinh tế đã dẫn đến giao lưu văn hoá.
Và giao lưu văn hóa lại thúc đẩy giao lưu kinh tế và dẫn đến những biến đổi xã hội. Điều này đã dẫn đến cuộc cách mạng tư sản Pháp lần thứ nhất 1789 và đến cuộc cách mạng tư sản lần thứ hai ở Pháp và ở một số nước châu Âu vào năm 1848. Có thể nói, thế kỷ XIX là thế kỷ của giao lưu, thế kỷ của chủ nghĩa thế giới. Về điều này, Marx và Engels đã tuyên bố trong Tuyên ngôn § của Dang Céng sdn 1848 nhu sau: "Thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc.
Mà sản xuất vật chất đã như thế, thì sản xuất tỉnh thần cũng không kém như thế, những thành quả của hoạt động tinh than của một dân tộc trở thành tài sản chung của tất cả các dân tộc. Tính chất hẹp hòi của phiến diện dân tộc ngày càng không thể tồn tại được nữa, và từ những nền văn học dân tộc và địa phương muôn hình muôn vẻ, đang nảy nở một nền văn học toàn thế giới"), Như vậy là đến giai đoạn này ở phương Tây đã bắt đầu hình thành một nền vấn học thế giới mà điều kiện để cho nó phát triển là sự giao lưu văn hoá. Giao lưu văn hóa chính là một đặc trưng của văn học lãng mạn phương Tây. Không phải ngẫu nhiên mà từ năm 1827, nhà văn lãng mạn Đức Goethe đã chủ trương phải phát triển văn hoc thé gidi (Ong ding thuật ngữ tiếng Đức là Welltliteratur).1827, trong cuộc nói chuyện với J.Eckermann, Goethe đi so sáth một cuốn tiểu thuyết văn vần của Trung Quốc được 2.
Thomas dịch ra tiếng Anh năm 1824 (Chinese Cou;tship, "Vẻ lịch lãm Trung Hoa") với thơ của nhà thơ Pháp đương thời nổi tiếng P.de Bérangcr, để cho thấy sự tương phản về đề tài khai 1. Ang-ghen: Tuyển ráp, T.Nxb Sự Thật, 1980, tr. thác giữa hai hiện tượng thơ này réi sau d6 Goethe phat biểu về văn học thế giới như sau: ". nếu người Đức chúng ta không nhìn vượt ra ngoài cái khung biên giới hạn hẹp của chúng ta, thì không có gì đễ bằng việc chúng ta sẽ rơi vào căn bệnh tự phụ thông thái rởm.
Chính vì thế mà tôi thích xem xét cả những BÌ xảy ra ở các dân tộc khác và tôi cũng khuyên tất cả mọi người hãy cùng làm như tôi. Ở thời đại chúng ta, văn học dân tộc không còn có ý nghĩa gì nhiều; bây giờ là thời đại của văn học thế giới và mỗi chúng ta cần phải góp phần làm cho _ thoi đại đó hình thành càng sớm càng tốt. *) Tuy nhién, ngay cả trong trường hợp đánh giá cao những cái của nước ngoài thì chúng ta cũng không được dựa vào một sự việc cụ thể để coi đó là một hình mẫu [.], muốn đi tìm hình mẫu này, chúng ta hãy quay về với người Hy Lạp cổ đại, trong tác phẩm của họ chúng ta luôn luôn tìm thấy con người được mô tả với tất cả vẻ đẹp của nó. Mọi cái còn lại [tức các nền văn học khác - NVD], chúng ta chỉ nên nhìn nhận theo quan điểm lịch sử, để từ đó chúng ta chỉ tiếp nhận những gì phù hợp với chúng ta và những gì là tốt đẹp".
Ở đây, theo ý của Goethe, văn học thế giới là văn học được hình thành dựa trên sự giao lưu văn hóa quốc tế. Nó đề cập đến những giá trị tốt đẹp chung của loài người, như ông đã làm khi sáng tác kịch /phigemia ở Taurida. Ö một cuộc nói chuyện (*) Chúng tôi nhấn mạnh (NVD). Johann Peter Eckermann: Converbiri cu Goethe, Buc.
10 khác với Eckermann, ngày 15.1827, khi ban dén Thomas Carlyle (1795 - 1881), nha van Anh nghiên cứu van hoc Đức, Goethe lại nói về văn học thế giới như sau: ”. ngày nay, với các mối quan hệ chặt chẽ giữa người Pháp, người Anh và người Đức, chúng ta có thể chỉnh lý lẫn nhau. Đây là ích lợi lớn mà văn học thế giới dem lại, ích lợi này trong tương lai sẽ càng lớn hơn nữa", Ở đây thì khái niệm "văn học thế giới" lại có nghĩa là nghiên cứu văn học quốc tế, là việc nghiên cứu văn học giữa các nước với nhau bao gồm cả văn học dịch. Như vậy, khái niệm "văn học thế giới" của Goethe vừa có nghĩa là nên văn học thế giới vừa có nghĩa là bộ môn lịch sứ văn học thể giới.
Đây là một thứ chủ nghĩa thế giới trong sáng tác và nghiên cứu văn học, một thứ chủ nghĩa thế giới đặc trưng cho chủ nghĩa lãng mạn phương Tây thế ký XIX. Và như thế, khái niệm "văn học thế giới" của Gocthe cũng là một cơ sở để đẫn đến sự ra đời của bộ môn văn học so sánh. Và ta cũng có thể nó/giao lưu văn hóa là điều kiện xã hội của sự hình thành văn học so sánh.