Chương 1. PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HỘI NHẬP KHU VỰC Ở CHÂU ÂU. Khung phân tích các nhân tố tác động (Các cấp độ phân tích). Cấp độ toàn cầu (Global level).
Quan hệ Mỹ - Trung. Môi trường và biến đổi khí hậu toàn cầu. Cấp độ liên quốc gia (Interstate level). Khu vực Eurozone.
An ninh – quốc phòng. Các quốc gia thành viên Trung – Đông Âu. Cấp độ quốc gia (State level of analysis). Chủ nghĩa dân tuý.
Chủ nghĩa hoài nghi châu Âu. Nguyên Thủ tướng Đức Angela Merkel. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron .68 Tiểu kết chương 2. XU HƯỚNG VÀ TRIỂN VỌNG HỘI NHẬP KHU VỰC Ở CHÂU ÂU HẬU BREXIT.
Các xu hướng tác động chính. Xu hướng “bá quyền ổn định” của Đức. Xu hướng hồi sinh của trục Pháp – Đức. Một số thách thức đối với tiến trình hội nhập khu vực ở châu Âu hậu Brexit.
Vấn đề mở rộng. Vấn đề triển khai Hiệp ước Lisbon. Khủng hoảng nợ công châu Âu. Thách thức từ môi trường chính trị quốc tế.
Triển vọng hội nhập khu vực ở châu Âu hậu Brexit .92 Tiểu kết chương 3 .100 TÀI LIỆU THAM KHẢO. ĐIỀU 11 HIỆP ƯỚC VỀ CHỨC NĂNG HOẠT ĐỘNG CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU. ĐIỀU 191, 192 VÀ 193 HIỆP ƯỚC VỀ CHỨC NĂNG HOẠT ĐỘNG CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU. ĐIỀU 3 HIỆP ƯỚC VỀ LIÊN MINH CHÂU ÂU.
Lý do lựa chọn đề tài Liên minh châu Âu hay Liên hiệp các nước châu Âu (European Union – EU) hiện nay là một liên minh chính trị và kinh tế gồm 27 quốc gia thành viên ở châu Âu. Sau hơn 60 năm hình thành và phát triển, EU được thế giới đánh giá là mô hình liên kết khu vực thành công nhất trong lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại. EU được hình thành trên cơ sở các cộng đồng trước đó và tiền thân là Cộng đồng Than và Thép Châu Âu (European Coal and Steel Community – ECSC) thành lập năm 1951. Quá trình hội nhập khu vực ở châu Âu bắt đầu từ hội nhập kinh tế từng bước mở rộng sang hội nhập chính trị - xã hội về phạm vi, lĩnh vực và chất lượng theo cả chiều rộng và chiều sâu.
Trong suốt quá trình hội nhập, EU đã đạt được nhiều thành tựu trong nhiều các lĩnh vực như kinh tế, thương mại, tài chính, tiền tệ, và nhiều lĩnh vực khác. Tuy vậy, tiến trình liên kết và hội nhập khu vực ở châu Âu mà EU triển khai đã bộc lộ những khiếm khuyết. Bên cạnh tâm lý lạc quan và cởi mở của những người dân châu Âu là sự phát triển âm thầm của tâm lý hoài nghi châu Âu (Euroscepticism). Những năm đầu của thế kỷ 21, cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính năm 2007 – 2008, cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu năm 2010, cuộc khủng hoảng dòng người di cư năm 2015 và gần đây nhất là khủng hoảng Brexit đã “nuôi dưỡng” chủ nghĩa dân túy và làm lan rộng tâm lý nghi ngại về mức độ bền vững cũng như khả năng gắn kết của EU ở khu vực châu Âu.
Mối quan hệ giữa Vương quốc Anh và EU được biết đến là cặp quan hệ nhiều thăng trầm nhất châu Âu do sự khác biệt về yếu tố địa lý, lịch sử và lợi ích trong tính toán chiến lược của hai bên. Trong suốt hơn 40 năm gia nhập EU (từ năm 1973 đến nay) đại đa số người dân Vương quốc Anh vẫn luôn đứng trong tình thế lưỡng nan với vấn đề xác định “động lực và lợi ích” của việc gia nhập EU. Ngày 23 tháng 6 năm 2016, cử tri Vương quốc Anh đã tiến hành cuộc trưng cầu dân ý với kết quả là rời khỏi EU (hay còn gọi là Brexit), trong đó tỷ lệ số phiếu chọn “Ra đi” là 52% so với số phiếu chọn “Ở lại” là 48%. Sự kiện Brexit đã dấy nên nhiều vấn đề về thực trạng 2 và triển vọng hội nhập ở châu Âu, cũng như sự nghi ngại về mô hình liên kết khu vực ở châu Âu.
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi chọn đề tài “Những nhân tố tác động đến hội nhập khu vực ở châu Âu hậu Brexit” là đề tài nghiên cứu của luận văn. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Về tình hình nghiên cứu về những nội dung có liên quan đến đề tài này, chúng tôi chia làm hai nhóm vấn đề chính: (i) Lý thuyết hội nhập khu vực và hội nhập khu vực ở châu Âu; (ii) Tác động của những cuộc khủng hoảng đến xu hướng hội nhập – liên kết ở châu Âu. * Các nghiên cứu về lý thuyết hội nhập khu vực và hội nhập khu vực ở châu Âu Một số học giả sử dụng chủ nghĩa kiến tạo để giải thích hội nhập khu vực châu Âu, chẳng hạn như trong “The Social Construction of Europe” Christiansen xem chủ nghĩa kiến tạo như một cách tiếp cận trung dung để hiểu về hội nhập châu Âu, tách biệt với chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa phản xạ (Christiansen et al 1999). Công trình của Christiansen có giá trị về khoa học chính trị, đặc biệt là trong việc giải thích các mối quan hệ quốc tế sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc dưới lăng kính chủ nghĩa kiến tạo.
Năm 2003, Jupille và các đồng sự cho rằng hội nhập châu Âu được thiết kế với các mục tiêu có tính duy lý và tính xã hội (Jupille, J. Bổ sung cho luận điểm này, Aalberts (2004) trong “The Future of Sovereignty in Multilevel Governance Europe – A Constructivist Reading” trước đó cho rằng ngôn ngữ và giao tiếp là các chuẩn mực của kiến tạo. Ngoài ra, Aalberts cũng đưa ra những nhận xét sâu sắc về sự hình thành của nhiều tổ chức ở châu Âu. Chebakova (2008) trong bài viết “Theorizing the EU as a Global Actor: A Constructivist Approach” cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của diễn ngôn và cho rằng hành vi lời nói có thể được thể chế hóa thành các chuẩn mực.
3 Chủ nghĩa liên chính phủ tự do phát triển từ giữa những năm 1960 với một số học giả tiêu biểu như Hoffmann, S. Để tiếp cận quá trình liên kết khu vực ở châu Âu, Moravcsik, A. đã dùng chủ nghĩa liên chính phủ tự do, trong bài viết “Preferences and Power in the European Communit: A Liberal Intergovernmentalist Approach” trên Journal of Common Market Studies năm 1993 và cuốn sách “The Choice for Europe” năm 1998, để nghiên cứu và giải thích sự phát triển của EU trong giai đoạn từ năm 1955 – 1992. Moravcsik lập luận rằng việc gia nhập EU là một “phản ứng” hợp lý đối với các ràng buộc và cơ hội phát sinh từ các lợi ích xã hội cụ thể Moravcsik (1993, 1998).
Vấn đề hội nhâp khu vực ở châu Âu cũng được Moravcsik tìm hiểu trong một loạt những tác phẩm sau này như “Constructivism and European Integration: A Critique” (2001); bài viết “The European Constitutional Settlement” (2007); bài viết “The New Liberalism” (2008) và bài viết “Europe After the Crisis How to Sustain a Common Currency” (2012). Trong tác phẩm “The Uniting of Europe”, Haas (1950) đã phát triển khái niệm “spill-over” (hiệu ứng lan tỏa), chỉ sự hợp tác từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác, là một trong những điểm cơ bản và quan trọng nhất của các nhà chủ nghĩa tân chức năng châu Âu khi nghiên cứu về hội nhập khu vực. Nghiên cứu này sau đó được Lindberg, L. (1963) sử dụng và mở rộng trong “The Political Dynamics of European Economic Integration” và một nghiên cứu khác với sự hợp tác của Stuart A.
Scheingold (1970) là “Regional Integration: Theory and Research”. Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu phân tích hội nhập khu vực ở châu Âu về lĩnh vực kinh tế. Những nghiên cứu mô tả quá trình hội nhập của EU và những xu hướng phát triển trong tương lai có thể kể đến như “Những vấn đề xung quanh việc hợp nhất châu Âu” của Nguyễn Văn Dân (chủ biên) và Lê Ngọc Hiền (1997); và “Liên minh châu Âu hai thập niên đầu thế kỷ XXI” của Đinh Công Tuấn (chủ biên) (2011). Các bài viết đề cập đến khái niệm và lý thuyết hội nhập quốc tế “Hội nhập quốc tế: một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Phạm Quốc Trụ (2011), bài viết 4 “Liên kết ở Liên minh châu Âu: từ lý thuyết đến thực tiễn” của Nguyễn Quang Thuấn (2014).
Việc nhìn nhận các thể chế của EU theo tiêu chí nào, quốc gia hay liên bang hay tổ chức quốc tế, được thảo luận trong một số bài viết trên Tạp chí nghiên cứu châu Âu như “Tổng quan về Liên minh châu Âu” của Đinh Công Tuấn (2001); “Vai trò của Tòa án châu Âu trong quá trình hình thành Liên bang châu Âu” của Hoàng Văn Ánh (2004), “Những nhân tố tác động đến quá trình cải cách hệ thống thể chế chính trị ở Liên minh châu Âu” của Đặng Minh Đức (2005), và một số bài viết của Phan Đức Thọ như “Hiệp ước Hiến pháp và Hiệp ước Lisbon – thực chất và triển vọng” (2009), “Đánh giá chất “liên bang” của Liên minh châu Âu theo lý thuyết liên bang” (2010). Các bài viết trên chủ yếu dừng lại ở việc giới thiệu tổng quan lý thuyết hội nhập và một số nhận định trong tiến trình hội nhập EU; hoặc là các nghiên cứu nhỏ với quy mô trên tạp chí nên nhìn chung vẫn tản mạn và thiếu tính hệ thống. *Các nghiên cứu về xu hướng hội nhập – liên kết ở châu Âu Hầu hết các nhà nghiên cứu phân tích cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu thường dựa trên các lý thuyết và đánh giá trên phương diện kinh tế. Carmen Reinhart và Kenneth Rogoff trong “The Aftermath of Financial Crises” và “This Time Is Different: Eight Centuries of Financial Folly” đưa ra quan điểm về lý thuyết hợp nhất cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu và quy trách nhiệm vào việc thiếu vắng một hệ thống luật pháp ở cấp độ liên minh để thực thi các khoản vay xuyên biên giới (Carmen Reinhart & Kenneth Rogoff, 2009a, 2009b).
Irving Fisher đưa ra lý thuyết “debt-deflation” (giảm phát nợ) trong tác phẩm “The Debt-Deflation Theory of Great Depressions” và cho rằng nếu một quốc gia đang ở trong tình trạng mắc nợ cao, một loạt các sự kiện bất lợi sẽ diễn ra và tiếp tục ảnh hưởng đến nền kinh tế; do đó, dẫn đến sự thanh lý hàng loạt bởi sự hoảng loạn 5 lan rộng giữa các “con nợ” hoặc “chủ nợ”. Fisher cũng tin rằng đình trệ và suy thoái kinh tế đến từ việc gia tăng gánh nặng nợ thực do giảm phát, khiến người tiêu dùng vỡ nợ đối với các khoản đã vay trước đó. Lý thuyết giảm nợ phát đóng một vai trò quan trọng trong việc xem xét các kịch bản có thể xảy ra ở châu Âu trong tương lai (Fisher, 1933).