Chương 1, tác giả xem xét 3 quan điểm chính liên quan quan hệ quốc tế về quốc phòng là Thuyết Hiện thực, quan điểm của Việt Nam và quan điểm của Hoa Kỳ về vấn đề này. Một số quan điểm về quan hệ quốc phòng trong quan hệ quốc tế 1. Chủ nghĩa hiện thực về hợp tác quốc tế và quốc phòng Chủ nghĩa hiện thực là một lý luận có ảnh hưởng mạnh mẽ về cách hiểu quan hệ quốc tế cũng như hành vi của các quốc gia. Xem xét những nội dung cơ bản của Chủ nghĩa hiện thực phần nào giúp hiểu hơn về các động lực của các quốc gia trong hợp tác quốc phòng.
Những nội dung quan trọng của Chủ nghĩa hiện thực về hợp tác quốc tế và quốc phòng là: Quan hệ quốc tế và quan hệ quốc tế về quốc phòng bắt nguồn và xuyên suốt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Theo thuyết Hiện thực (đặc biệt là theo các nhà lý luận kinh điển của thuyết này như Thucydides1, Niccolo Machiavelli2, Thomas Hobbes3, 1 Thucydides (471 – 400 TCN), một vị tướng của Athens, tác phẩm tiêu biểu “Cuộc chiến tranh Pelopones” tường thuật về 21 trong 28 năm của cuộc chiến tranh giữa Athens và Sparta (và đồng minh của họ) trong thế kỷ 5 TCN. 18 Hugo Grotius4, Carl von Clausewitz5, Edward Hallet Carr6, Hans J. Morgenthau7…), các quốc gia là chủ thể quan trọng nhất trong quan hệ quốc tế và việc nghiên cứu quan hệ quốc tế cần tập trung vào việc nghiên cứu các quốc gia và mối quan hệ qua lại giữa chúng.
Các chủ thể phi quốc gia như các công ty đa quốc gia và các tổ chức quốc tế không có vai trò quan trọng như các quốc gia, mặc dù cũng có những tác động nhất định tới quan hệ quốc tế. Trường phái này cũng nhấn mạnh vai trò của các cường quốc, coi sức mạnh của các cường quốc tạo thành thứ bậc trong quan hệ quốc tế. Theo đó, các cường quốc chi phối quan hệ quốc tế, tạo ra các trung tâm quyền lực. Thí dụ: vai trò của Tây Ban Nha, Bồ ào Nha thế kỷ thứ XV - XVI, của Hà Lan thế kỷ XVII, của Anh từ thế kỷ XVIII đến 1945, của Hoa Kỳ trong và sau Chiến tranh lạnh [23], [33], [38].
Các quốc gia thường được coi là đơn nhất về quyền lực, tức nhà nước có quyền đại diện quốc gia trên thế giới và không có thực thể chính trị nào trong quốc gia có quyền hành cao hơn. Nếu trong quốc gia có sự khác biệt giữa các nhóm người về quan điểm, sự khác biệt này sẽ phải được thu xếp để cuối cùng quốc gia đó có một tiếng nói thống nhất trong quan hệ với bên ngoài. ồng thời, các quốc gia hành động một cách duy lý mà không phụ thuộc vào loại hình của nhà nước, tức là có tính toán trong khi tham 2 Niccolo Machiavelli (1469 – 1527), nhà triết học chính trị người Italia, tác phẩm tiêu biểu “Bậc quân vương” giới thiệu cách tranh giành, duy trì và khuyếch trương quyền lực; trong đó cho rằng có thể sử dụng mọi biện pháp cần thiết miễn là đạt được mục đích cuối cùng là an ninh quốc gia. 3 Thomas Hobbes (1588 – 1679), nhà triết học chính trị người Anh, tác phẩm tiêu biểu “ ấng quyền năng” nói về lý luận đại cương trong chính trị, trong đó nêu lên quan niệm bi quan về bản chất con người và chứng minh sự cần thiết phải có một quyền lực chính trị trung ương mạnh mẽ.
4 Hugo Grotius (1583 – 1645), người Hà Lan, tác phẩm tiêu biểu “Luật pháp về chiến tranh và hòa bình” gồm 3 tập bàn về chiến tranh và những vấn đề an ninh quốc gia. 5 Carl von Clausewitz (1780 – 1831), một tướng Phổ, tác phẩm tiêu biểu “Bàn về chiến tranh” tập trung bàn về chiến tranh, các vấn đề an ninh quốc gia, cho rằng quân sự là một phương tiện của chính trị. 6 Edward Hallet Carr (1892 – 1982), một nhà sử học, ngoại giao, nhà báo, nhà lý luận của chủ nghĩa hiện thực người Anh, tác phẩm tiêu biểu “Cuộc khủng hoảng 20 năm” cố gắng phân tích nguyên nhân sâu xa và quan trọng của chiến tranh. Morgenthau (1904 - 1980), nhà lý luận chủ nghĩa hiện thực người Mỹ gốc ức, tác phẩm tiêu biểu “Chính trị giữa các quốc gia” được xem như một nền móng cho chủ nghĩa hiện thực thời kỳ hiện đại.
19 gia quan hệ quốc tế mà chủ yếu là áp dụng chính sách cân bằng sức mạnh/quyền lực dựa vào thực lực của mình để thực hiện các lợi ích quốc gia. Những giả định về tính đơn nhất và duy lý vừa nêu xuất phát từ quan niệm cho rằng quốc gia cũng như con người, có bản chất tự nhiên là ích kỷ, để sinh tồn nên luôn mong muốn mạnh hơn và vượt qua người khác, và những điều này là không đổi theo thời gian. Tính chất đơn nhất và duy lý của quốc gia khiến cho các quốc gia đặc biệt quan tâm đến việc đạt được lợi ích quốc gia, dân tộc trong khi tham gia vào quan hệ quốc tế (đặc biệt là quyền lực và an ninh quốc gia) [23], [38]. Các học giả và nhà nghiên cứu theo các trường phái lý thuyết khác (nhất là những người theo thuyết Tự do8) phê phán rằng các nhà Hiện thực đã quá chú trọng đến các quốc gia mà bỏ qua vai trò ngày càng quan trọng của các chủ thể phi quốc gia trong đời sống quan hệ quốc tế hiện đại; và do đó đã quá chú trọng vai trò của lợi ích quốc gia trong quan hệ quốc tế mà coi nhẹ lợi ích của các nhóm người, các tập hợp, các diễn đàn khu vực và quốc tế… Thêm vào đó, các nhà Hiện thực do quá quan tâm đến vai trò của nhân tố quyền lực và an ninh quốc gia nên đã có xu hướng xem nhẹ các quan tâm khác như kinh tế, văn hoá, ô nhiễm môi trường.
vốn cũng có vai trò ngày càng quan trọng trong quan hệ quốc tế, và có mức độ giao thoa ngày càng lớn với chính khái niệm “quyền lực” hay “an ninh quốc gia”. Các nhà phê bình cho rằng việc quá chú trọng đến các quốc gia và các vấn đề như “quyền lực” và “an ninh” làm các nhà Hiện thực mất đi những công cụ mạnh trong việc lý giải đầy đủ và khoa học hơn về bản chất của quan hệ quốc tế hiện đại. Hơn nữa, các phân tích về chủ thể của trường phái Hiện thực dựa trên giả định về con người bị cho là không hợp lý vì 8 Các nhân vật nổi tiếng của trường phái này bao gồm nhà triết học John Locke (người Anh, thế kỷ 17), luật sư/triết gia chính trị Baron de Montesquieu (người Pháp, thế kỷ 18), Tổng thống Thomas Jefferson (người Mỹ, thế kỷ 18)… 20 các nhà phê bình cho rằng bản chất con người không hoàn toàn xấu và con người có thể thay đổi tích cực theo thời gian; và điều tương tự cũng có thể áp dụng cho các quốc gia khi nhận thức chung về cuộc sống và các chủ thể tăng lên theo thời gian [38]. Sức mạnh của tiềm lực quốc phòng chi phối các nội dung, phương pháp quan hệ quốc tế và quan hệ quốc tế về quốc phòng Một giả định quan trọng được các học giả của thuyết Hiện thực (nhất là Thucydides, Hobbes, Grotius…) nhấn mạnh là việc tồn tại tình trạng “vô chính phủ” trong chính trị quốc tế.
Nói cách khác, thiếu một quyền lực đứng trên các quốc gia để điều khiển cả hệ thống chính trị quốc tế. Tình trạng “vô chính phủ” phát sinh do các quốc gia tham gia quan hệ quốc tế, về mặt lý thuyết, đều có chủ quyền (quyền tự quyết về đối nội và đối ngoại) độc lập với các quốc gia khác. Nói cách khác, một số quốc gia được xem là hùng mạnh hơn các quốc gia khác trong quan hệ quốc tế song không có quốc gia nào có quyền lực được thừa nhận một cách đương nhiên là cao hơn quyền lực của các quốc gia khác [33], [38]. Chính vì việc không có một “Chính quyền trung ương” đứng trên các quốc gia để phân xử các vấn đề và mâu thuẫn trong quan hệ quốc tế, hệ thống chính trị quốc tế có thể được xem là một hệ thống “tự cứu”, trong đó các quốc gia phải dựa vào sức mạnh của chính mình và sự tương tác giữa các quốc gia được cơ cấu bởi sự phân bổ quyền lực hoặc năng lực của các quốc gia.
Nói cách khác, tình trạng “vô chính phủ” đi kèm với tình trạng thiếu tin cậy giữa các quốc gia trong một môi trường như vậy tạo điều kiện cho các cường quốc có thể làm mọi thứ họ muốn và các quốc gia yếu hơn phải chấp nhận điều đó. Trong một hệ thống như vậy các cường quốc là rất 21 quan trọng và về cơ bản họ có vai trò quyết định trong việc hình thành các khuôn khổ xung đột hoặc hợp tác [23], [38]. Do hệ thống quốc tế tồn tại tình trạng “vô chính phủ” và về cơ bản thiếu tin tưởng lẫn nhau giữa các quốc gia, tình thế nan giải về an ninh là một tình trạng rất phổ biến trong quan hệ quốc tế9. Theo đó, để tồn tại và phát triển, một quốc gia bắt buộc phải tìm kiếm các phương thức tăng cường sức mạnh (đặc biệt về quân sự), kéo theo việc các quốc gia khác cảm thấy bị đe dọa và cũng có xu hướng tăng cường sức mạnh để đối phó, hình thành một xu hướng chạy đua sức mạnh trong quan hệ quốc tế do không ai có thể biết rõ ý đồ thực sự của đối phương trong việc tăng cường sức mạnh (ngoài các nhân tố bên trong như phát triển kinh tế quốc phòng, việc tăng sức mạnh quân sự thường là kết quả của tình trạng “vô chính phủ” và thiếu tin cậy giữa các quốc gia).
Theo đó, một quốc gia trong cuộc đua này nếu không có thể tự mình tăng cường sức mạnh quân sự thường có xu hướng tham gia vào một liên minh dưới dạng nào đó để tăng cường sức mạnh tấn công/phòng thủ cho bản thân [23], [38]. Liên quan vấn đề này, quyền lực có thể được hiểu một cách tổng hợp nhất theo nghĩa khả năng bắt người khác phải làm theo ý của mình dựa trên 3 cơ sở (i) Khả năng về sức mạnh tuyệt đối hoặc tương đối của một quốc gia (sức mạnh kinh tế, chính trị, văn hoá, địa lý, truyền thống.); (ii) Ý muốn của quốc gia đó (và nhận thức của quốc gia khác về ý muốn của quốc gia đó) về việc sử dụng khả năng sức mạnh của mình; (iii) Việc quốc gia đó khống chế hoặc gây ảnh hưởng lên quốc gia khác.