Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quan hệ Quốc tế (mã số: 62.06) với đề tài "Một số nhân tố chủ yếu chi phối quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ" được nghiên cứu sinh Lại Thái Bình thực hiện tại Học viện Ngoại giao, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Phú Lợi và PGS. Tạ Minh Tuấn, bảo vệ năm 2015 tại Hà Nội.
Về tính cấp thiết, tác giả xác định quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ là một bộ phận cấu thành quan trọng trong tổng thể quan hệ song phương, có mối quan hệ biện chứng với toàn bộ công tác đối ngoại của Việt Nam (đặc biệt trong quan hệ với các nước lớn và khu vực Châu Á – Thái Bình Dương), đồng thời tác động trực tiếp đến an ninh và tình hình chính trị – xã hội trong nước. Trong bối cảnh Hoa Kỳ triển khai chính sách "tái cân bằng" sang Châu Á – Thái Bình Dương và Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện, hợp tác quốc phòng giữa hai nước có sự biến chuyển cả về lượng và chất, gắn liền với các vấn đề an ninh khu vực như tình hình Biển Đông, xu hướng gia tăng sức mạnh quân sự của các quốc gia và nhu cầu đối phó thách thức an ninh phi truyền thống. Tuy nhiên, mối quan hệ này cũng tồn tại nhiều trở ngại do sự chênh lệch về tiềm lực phát triển, tính chất nhạy cảm lịch sử và sự khác biệt về lợi ích chiến lược. Luận án đặt ra nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu khi trước đó chưa có công trình nào phân tích chuyên biệt, mang tính hệ thống về các nhân tố nội hàm chi phối quan hệ quốc phòng song phương.
Mục tiêu nghiên cứu chính của luận án là dự báo chính xác những nhân tố chủ yếu chi phối quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ trong giai đoạn 2016 – 2020.
Để thực hiện mục tiêu trên, luận án đảm nhiệm 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản:
- Làm rõ cơ sở lý luận về các nhân tố phổ biến chi phối quan hệ quốc tế về quốc phòng để định hướng cho việc nghiên cứu các nhân tố này trong quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ;
- Khảo sát thực tiễn quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao để tìm ra các nhân tố chi phối trong giai đoạn này;
- Dự báo các nhân tố chủ yếu chi phối quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ trong giai đoạn 2016 – 2020 và đưa ra một số kiến nghị liên quan.
Giả thuyết nghiên cứu chính được tác giả xác lập: Sự phát triển của quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ chịu sự chi phối ngày càng nhiều của các lợi ích ứng phó với thách thức an ninh – quốc phòng chung của Châu Á – Thái Bình Dương.
Đối tượng nghiên cứu của luận án gồm 3 nhóm nhân tố: (i) Sự thay đổi về môi trường chiến lược của quốc tế và khu vực; (ii) Sự thay đổi của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ; (iii) Điều chỉnh chính sách của hai nước trong lĩnh vực quốc phòng và sự trùng hợp, khác biệt về chính sách quốc phòng của hai nước.
Phạm vi nghiên cứu được xác định:
- Không gian: Quan hệ song phương Việt Nam – Hoa Kỳ đặt trong tương tác với an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và bối cảnh quốc tế.
- Thời gian: Khảo sát thực tiễn từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao năm 1995 đến năm 2015 (thời điểm chuẩn bị kết thúc nhiệm kỳ của Chính quyền Tổng thống Barack Obama, đánh dấu giai đoạn đầu của chính sách "tái cân bằng"); phạm vi dự báo tập trung vào giai đoạn 2016 – 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần lịch sử nghiên cứu vấn đề, tác giả đã phân loại và điểm lại các công trình tiêu biểu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài:
Nhóm nghiên cứu về lý luận và phương pháp tiếp cận quan hệ quốc tế: Tác phẩm "Quan hệ quốc tế: Các phương pháp tiếp cận hiện đại" [33] cung cấp phương pháp luận và lý luận phương Tây; tác phẩm "Lý luận quan hệ quốc tế" [38] hệ thống hóa các quan điểm về nguyên nhân hợp tác và đấu tranh giữa các quốc gia; công trình "Quan hệ đối tác chiến lược trong quan hệ quốc tế: Từ lý thuyết đến thực tiễn" [37] và "Khuôn khổ quan hệ đối tác của Việt Nam" [36] phân tích các mô hình đối tác giữa các nước lớn, giữa nước lớn với nước nhỏ và giữa các nước nhỏ.
Nhóm nghiên cứu về chính sách đối ngoại, quốc phòng của Việt Nam và Hoa Kỳ: Tác phẩm "Một số vấn đề về công tác đối ngoại quốc phòng Việt Nam" [20] xác định yêu cầu đặt đối ngoại quốc phòng trong bối cảnh quốc tế mới nhằm giữ vững môi trường hòa bình; cuốn sách "Quan hệ quốc phòng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam" [78] mô tả tiến trình bình thường hóa thập niên 1990 và các nguyên tắc ban đầu của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ; công trình "Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay" [25] phân tích điều chỉnh an ninh của Hoa Kỳ tại Châu Á – Thái Bình Dương trước và sau ngày 11/9/2001; báo cáo của Quốc hội Hoa Kỳ "Quan hệ quốc phòng và chiến lược của Hoa Kỳ tại Châu Á – Thái Bình Dương" [84] đánh giá thách thức và mạng lưới đối tác của Hoa Kỳ; tài liệu "Cách mạng trong quân sự và những vấn đề đặt ra đối với quốc phòng Việt Nam" [11] nêu các yêu cầu của cách mạng quân sự đối với quốc phòng Việt Nam.
Nhóm nghiên cứu về an ninh khu vực Đông Nam Á và Châu Á – Thái Bình Dương: Tác phẩm "Các đối thủ: Cuộc chiến quyền lực giữa Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản sẽ định hình thế kỷ tiếp theo như thế nào" [67] phân tích sự trỗi dậy của Trung Quốc và sự điều chỉnh của các cường quốc; cuốn "Quan hệ quốc tế tại Đông Nam Á: Cuộc chiến cho quyền tự trị" [85] xem xét vai trò của Hoa Kỳ trong duy trì trật tự và cân bằng khu vực; công trình "Xây dựng một cộng đồng an ninh ở Đông Nam Á" [40] luận bàn về vai trò và giới hạn của ASEAN trong xử lý xung đột khu vực và Biển Đông.
Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra các công trình nước ngoài chủ yếu nhìn nhận Việt Nam như một mắt xích trong chiến lược của Hoa Kỳ, ít xem xét chính sách mà Việt Nam cần theo đuổi trong tương quan với Trung Quốc; các công trình trong nước chủ yếu khảo sát bối cảnh chung mà chưa mổ xẻ các nhân tố nội tại. Cụ thể, các tồn tại chưa được giải quyết gồm:
- Về lý luận: Chưa có một hệ thống lý thuyết toàn diện giải thích về quan hệ hợp tác quốc phòng quốc tế nói chung cũng như quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ nói riêng.
- Về thực tiễn: (i) Chưa có sự hệ thống hóa quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ một cách tổng thể từ cả hai phía; (ii) Chưa có tài liệu chuyên sâu đánh giá cơ sở của quan hệ trong lịch sử cũng như giai đoạn tới; (iii) Chưa có hệ thống kiến nghị chính sách mang tính toàn diện.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về kết hợp đối ngoại với quốc phòng – an ninh. Nghiên cứu sử dụng kết hợp các phương pháp cụ thể: phương pháp lịch sử, phương pháp lô-gích, phương pháp phân tích – tổng hợp và đặc biệt coi trọng phương pháp chuyên gia thông qua trao đổi với các nhà nghiên cứu, cán bộ thực tiễn về quốc phòng của hai nước.
Khung lý thuyết của luận án được xây dựng từ việc tổng hợp 3 hệ quan điểm:
- Chủ nghĩa hiện thực về hợp tác quốc tế và quốc phòng: Tác giả dẫn chiếu quan điểm của các học giả kinh điển và hiện đại như Thucydides, Niccolo Machiavelli, Thomas Hobbes, Hugo Grotius, Carl von Clausewitz, Edward Hallet Carr, Hans J. Morgenthau, Kenneth Waltz, J. David Singer, Karl Deutsch. Các luận điểm trọng tâm gồm:
- Quốc gia là chủ thể quan trọng nhất, mang tính đơn nhất và hành động duy lý vì lợi ích quốc gia, dân tộc (đặc biệt là quyền lực và an ninh).
- Hệ thống chính trị quốc tế tồn tại trong tình trạng "vô chính phủ" (anarchy), vận hành theo cơ chế "tự cứu" (self-help), dẫn đến tình thế nan giải về an ninh (security dilemma) và thúc đẩy các quốc gia tăng cường tiềm lực quân sự hoặc tìm kiếm liên minh.
- Hợp tác quốc tế về quốc phòng gắn liền với nỗ lực cân bằng quyền lực trong cấu trúc hệ thống (đơn cực, lưỡng cực hoặc đa cực).
- Quan điểm của Việt Nam trong quan hệ quốc tế về quốc phòng: Đúc kết từ các nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam và thực tiễn đối ngoại:
- Kết hợp chặt chẽ giữa chính trị, kinh tế đối ngoại với quốc phòng – an ninh; vận dụng bài học lịch sử về "quốc phú", "binh cường", "nội yên", "ngoại tĩnh"; phát huy cơ chế phối hợp giữa ba cơ quan trụ cột là Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.
- Đề cao nguyên tắc độc lập, tự chủ; chủ động hội nhập quốc tế gắn với phòng ngừa các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, đối phó âm mưu "diễn biến hòa bình", không tham gia liên minh quân sự chống nước khác.
- Đánh giá đúng tình hình, phân định rõ "đối tác" và "đối tượng", giữ vững môi trường hòa bình để phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.
- Quan điểm của Hoa Kỳ trong quan hệ quốc tế về quốc phòng: Phân tích qua lý luận chính sách của Robert J. Lieber, Samuel Huntington, Henry Kissinger:
- Quan hệ quốc tế và hợp tác quốc phòng phải do Hoa Kỳ giữ vai trò chủ đạo và phục vụ lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ (phân thành các bậc: sống còn, đặc biệt quan trọng, quan trọng và thứ cấp; trong đó quyền lực và an ninh là ưu tiên hàng đầu).
- Dùng sức mạnh kinh tế và ưu thế quân sự vượt trội làm công cụ răn đe để thực thi chiến lược an ninh.
- Thiết lập, chi phối các liên minh quân sự – kinh tế đa phương và song phương, kết hợp biện pháp can thiệp quân sự có giới hạn khi cần thiết để bảo vệ lợi ích và vị thế lãnh đạo.
Nguồn tư liệu thực hiện luận án bao gồm các văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam, văn bản chiến lược của Chính phủ và Quốc hội Hoa Kỳ, các ấn phẩm nghiên cứu học thuật bằng tiếng Việt và tiếng Anh, cùng dữ liệu trao đổi chuyên gia quốc phòng hai nước trong giai đoạn 2010 – 2015.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số quan điểm nghiên cứu các nhân tố chi phối quan hệ quốc tế về quốc phòng
Chương 1 tập trung phân tích 3 hệ thống quan điểm lý luận nêu trên, từ đó rút ra bản chất các nhân tố chi phối quan hệ quốc phòng thuộc về phạm trù tư duy chiến lược. Tư duy chiến lược là quá trình nhận thức lý tính về môi trường an ninh vĩ mô (quốc tế, khu vực, quốc gia), từ đó điều chỉnh mục tiêu, nhiệm vụ chính trị và huy động các nguồn lực thích hợp để bảo vệ lợi ích quốc gia.
Tác giả so sánh sự khác biệt căn bản trong tư duy chiến lược giữa hai quốc gia:
- Hoa Kỳ: Tư duy của một siêu cường quen áp đặt trật tự, duy trì vị trí lãnh đạo toàn cầu, mở rộng không gian an ninh; chủ động dẫn dắt các liên minh và điều chỉnh mức độ hợp tác theo hướng chia sẻ trách nhiệm, rủi ro dựa trên ưu thế nguồn lực vật chất.
- Việt Nam: Tư duy của một quốc gia trải qua nhiều cuộc chiến tranh giữ nước, có tiềm lực vật chất hạn chế hơn; chú trọng mục tiêu phòng vệ, bảo vệ độc lập chủ quyền, thể chế chính trị; đề cao tính hòa hiếu, linh hoạt, tranh thủ sức mạnh thời đại kết hợp sức mạnh dân tộc và tránh rơi vào thế đối đầu nước lớn.
Từ những khác biệt này, luận án đúc kết khung phân tích gồm 3 nhóm nhân tố chính chi phối quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ: (i) Sự thay đổi của môi trường quốc tế và khu vực; (ii) Thực trạng quan hệ song phương Việt Nam – Hoa Kỳ; (iii) Sự điều chỉnh chính sách quốc phòng của mỗi bên.
| Tiêu chí |
Tư duy chiến lược của Việt Nam |
Tư duy chiến lược của Hoa Kỳ |
| Vị thế tiếp cận |
Quốc gia đang phát triển, quy mô vừa; coi trọng tự vệ và giữ vững chủ quyền. |
Cường quốc hàng đầu; định hình trật tự thế giới và duy trì vai trò lãnh đạo toàn cầu. |
| Mục tiêu cốt lõi |
Giữ vững độc lập, tự chủ, chế độ chính trị, môi trường hòa bình để phát triển đất nước. |
Bảo đảm an ninh quốc gia, duy trì ưu thế quyền lực vượt trội, thúc đẩy dân chủ kiểu phương Tây. |
| Phương thức thực hiện |
Kết hợp chính trị, kinh tế, quốc phòng – an ninh; đa phương hóa, đa dạng hóa; không liên minh quân sự. |
Duy trì sức mạnh răn đe quân sự vượt trội; chi phối hệ thống liên minh song phương và đa phương; can thiệp khi cần. |
| Nguyên tắc hợp tác |
Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; hợp tác từng bước, thận trọng; bình đẳng cùng có lợi. |
Đặt lợi ích Hoa Kỳ lên hàng đầu; phân bổ vai trò chủ đạo; gắn hợp tác an ninh với cải cách thể chế, nhân quyền. |
Chương 2: Một số nhân tố chủ yếu chi phối quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 1995 – 2015
Chương 2 phân tích thực tiễn 20 năm phát triển quan hệ quốc phòng giữa hai nước dựa trên 3 nhóm nhân tố đã xác định:
-
Tác động từ môi trường quốc tế và khu vực: Sau Chiến tranh lạnh, thế giới xuất hiện 4 xu thế lớn (hòa bình, hợp tác, phát triển; khoa học công nghệ phát triển mạnh; toàn cầu hóa và khu vực hóa; gia tăng thách thức an ninh phi truyền thống). Tại Châu Á – Thái Bình Dương, sự vươn lên nhanh chóng của Trung Quốc cùng các động thái gia tăng yêu sách chủ quyền ở Biển Đông làm thay đổi cán cân quyền lực. Cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn buộc các quốc gia Đông Nam Á phải tăng cường năng lực quốc phòng và tìm kiếm sự cân bằng thông qua vai trò trung tâm của ASEAN.
-
Sự chuyển biến của quan hệ song phương Việt Nam – Hoa Kỳ: Từ việc bình thường hóa quan hệ năm 1995, ký Hiệp định Thương mại song phương (BTA) năm 2000, gia nhập WTO năm 2007, đến việc thiết lập khuôn khổ Quan hệ Đối tác Toàn diện năm 2013. Khuôn khổ chính trị được củng cố tạo tiền đề mở rộng quan hệ quốc phòng. Hợp tác ban đầu tập trung vào khắc phục hậu quả chiến tranh (tìm kiếm quân nhân mất tích POW/MIA, rà phá bom mìn, xử lý ô nhiễm chất độc dioxin tại sân bay Đà Nẵng), sau đó từng bước mở rộng sang an ninh biển, y tế quân sự, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa (HADR), chuẩn bị cho hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc (PKO).
-
Điều chỉnh chính sách quốc phòng của hai nước: Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ, từng bước mở rộng đối ngoại quốc phòng nhằm bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa. Phía Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Barack Obama công bố chiến lược "tái cân bằng", chuyển trọng tâm quân sự và ngoại giao sang Châu Á – Thái Bình Dương, coi Việt Nam là đối tác quan trọng. Tháng 10/2014, Hoa Kỳ nới lỏng một phần lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam phục vụ mục đích an ninh hàng hải.
Đánh giá tác động giai đoạn 1995 – 2015, tác giả nhận định quan hệ quốc phòng đã có bước tiến thực chất, từ nghi kỵ chuyển sang tiếp xúc và xây dựng lòng tin, tạo nền tảng thể chế qua Bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng (MOU) năm 2011. Tuy nhiên, mức độ hợp tác chỉ ở mức vừa phải, thận trọng và chưa tương xứng hoàn toàn với khuôn khổ Đối tác Toàn diện, nguyên nhân do sự khác biệt về thể chế chính trị, quan ngại của Hoa Kỳ về nhân quyền, sự thận trọng của Việt Nam trước các yếu tố nhạy cảm nội bộ và tác động từ phản ứng của nước thứ ba.
Chương 3: Dự báo một số nhân tố chủ yếu chi phối quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 2016 – 2020
Chương 3 đưa ra các dự báo khoa học cho giai đoạn 5 năm tiếp theo dựa trên sự vận động của các nhóm nhân tố:
-
An ninh quốc tế và khu vực Châu Á – Thái Bình Dương: Cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc được dự báo sẽ tiếp tục diễn ra gay gắt trên các lĩnh vực kinh tế, quân sự và vị thế ảnh hưởng. Vấn đề tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông diễn biến phức tạp với nguy cơ gia tăng các hành động đơn phương thay đổi nguyên trạng trên thực địa. Các cơ cấu an ninh khu vực như ADMM+, ARF, EAS đóng vai trò diễn đàn đối thoại nhưng khả năng ràng buộc pháp lý còn hạn chế.
-
Thuận lợi và thách thức trong quan hệ song phương:
- Thuận lợi: Hai nước gia tăng điểm tương đồng về lợi ích chiến lược trong việc duy trì hòa bình, ổn định, tự do hàng hải và hàng không tại Biển Đông, đề cao việc tuân thủ Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS). Việc triển khai Tuyên bố Tầm nhìn chung về Quan hệ Quốc phòng (ký tháng 6/2015) và triển vọng Hoa Kỳ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương tạo động lực mới.
- Thách thức: Khác biệt về vấn đề dân chủ, nhân quyền tiếp tục bị các nhóm chính trị tại Hoa Kỳ sử dụng làm điều kiện ràng buộc hợp tác; nguy cơ phát sinh những phức tạp trong xử lý quan hệ cân bằng giữa các nước lớn.
- Hướng điều chỉnh chính sách quốc phòng: Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện, nâng cao năng lực tự vệ chính đáng cho quân đội (nhất là lực lượng Hải quân, Phòng không – Không quân, Cảnh sát biển). Hoa Kỳ duy trì cam kết can dự sâu tại khu vực, tăng cường hỗ trợ xây dựng năng lực thực thi pháp luật trên biển cho các đối tác Đông Nam Á thông qua các chương trình hỗ trợ an ninh.
Dự báo tác động: Giai đoạn 2016 – 2020 là thời kỳ có nhiều điểm thuận để quan hệ quốc phòng hai nước nâng lên tầm mức thực chất hơn. Các lĩnh vực ưu tiên phát triển bao gồm: an ninh hàng hải, nâng cao năng lực Cảnh sát biển, khắc phục hậu quả chiến tranh, đào tạo sĩ quan (chương trình IMET), quân y, tìm kiếm cứu nạn và hợp tác trong các phái bộ PKO của Liên hợp quốc.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn như sau:
Về mặt lý luận:
- Là công trình nghiên cứu mang tính hệ thống đầu tiên về các nhân tố chủ yếu chi phối quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ.
- Bổ sung và kết nối các lý luận phổ biến về quan hệ quốc phòng thông qua việc khảo cứu Chủ nghĩa hiện thực, quan điểm của Việt Nam và quan điểm của Hoa Kỳ; xác lập mô hình phân tích gồm 3 nhóm nhân tố then chốt (môi trường quốc tế/khu vực, quan hệ song phương, điều chỉnh chính sách quốc phòng).
Về mặt thực tiễn:
- Khảo sát thực tiễn 20 năm (1995 – 2015), chỉ ra rằng do tình hình khu vực, quan hệ song phương và hướng điều chỉnh chính sách thận trọng của mỗi bên, hợp tác quốc phòng đạt tiến triển vừa mức, tạo nền móng cần thiết song chưa tương xứng với khuôn khổ Đối tác Toàn diện.
- Dự báo giai đoạn 2016 – 2020 có nhiều điều kiện thuận lợi để tăng cường hợp tác thực chất, xuất phát từ nhu cầu chia sẻ lợi ích an ninh chung tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
Hệ thống kiến nghị, giải pháp được tác giả đề xuất:
- Cấp độ chính sách chung: Kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; thực hiện chính sách quốc phòng mang tính tự vệ; xử lý hài hòa quan hệ với các nước lớn, tránh để bị lôi kéo vào các liên kết đối đầu; từng bước củng cố lòng tin chiến lược với Hoa Kỳ.
- Cấp độ triển khai cụ thể:
- Thúc đẩy Hoa Kỳ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam.
- Ưu tiên hợp tác nâng cao năng lực an ninh hàng hải, bảo vệ chủ quyền biển đảo, hỗ trợ trang thiết bị quan sát bờ biển và phương tiện tuần tra cho Cảnh sát biển.
- Mở rộng các chương trình nhân đạo giải quyết hậu quả chiến tranh: tẩy độc dioxin, rà phá bom mìn, tìm kiếm hài cốt quân nhân hai bên.
- Đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực đào tạo tiếng Anh, y tế quân sự, cứu trợ thảm họa và hỗ trợ Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án tập trung khảo sát ở tầng mức vĩ mô chính sách và các nhân tố chi phối; do tính chất nhạy cảm và bảo mật của thông tin quốc phòng, việc tiếp cận các nguồn tư liệu thực tế chủ yếu dựa trên các văn kiện ngoại giao công khai, báo cáo chính phủ và trao đổi chuyên gia, chưa đi sâu vào các khía cạnh kỹ thuật quân sự hoặc cơ cấu tác chiến cụ thể. Đồng thời, mốc thời gian khảo sát thực tiễn kết thúc vào năm 2015 khiến các dự báo cho giai đoạn 2016 – 2020 chịu giới hạn bởi những giả định về sự tiếp nối chính sách của chính quyền Hoa Kỳ tiền nhiệm.
Về hướng nghiên cứu tiếp, đề tài gợi mở việc theo dõi, đánh giá thực chứng sự điều chỉnh chính sách an ninh của Hoa Kỳ sau cuộc bầu cử Tổng thống năm 2016 và tác động của nó tới cấu trúc an ninh khu vực; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế hợp tác công nghiệp quốc phòng và an ninh mạng giữa hai nước trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống diễn biến phức tạp.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn cho Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Ban Đối ngoại Trung ương và các cơ quan nghiên cứu chiến lược trong việc đánh giá ý đồ chính sách của Hoa Kỳ, từ đó xây dựng kế hoạch hợp tác quốc phòng phù hợp với lợi ích an ninh quốc gia.
- Nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên: Là tài liệu nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành Quan hệ quốc tế, Ngoại giao và Quốc phòng – An ninh tại Học viện Ngoại giao, Học viện Quốc phòng và các trường đại học chuyên ngành. Nội dung chương 1 và chương 2 đặc biệt hữu ích trong việc cung cấp phương pháp tiếp cận đa chiều về tư duy chiến lược và thực tiễn bình thường hóa quan hệ an ninh song phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Giả thuyết nghiên cứu chính của luận án là gì?
Giả thuyết nghiên cứu chính của luận án cho rằng sự phát triển của quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ chịu sự chi phối ngày càng nhiều của các lợi ích ứng phó với thách thức an ninh – quốc phòng chung của Châu Á – Thái Bình Dương.
2. Ba nhóm nhân tố chủ yếu chi phối quan hệ quốc phòng song phương được xác định gồm những yếu tố nào?
Ba nhóm nhân tố gồm: (i) Sự thay đổi của môi trường quan hệ quốc tế và khu vực; (ii) Bản thân quan hệ song phương Việt Nam – Hoa Kỳ; (iii) Những điều chỉnh cụ thể của hai nước trong lĩnh vực hợp tác quốc phòng, có tính đến các đặc thù về phát triển kinh tế – xã hội, bộ máy quản lý và mức độ hội nhập.
3. Khác biệt căn bản trong tư duy chiến lược giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là gì?
Hoa Kỳ tư duy theo vị thế cường quốc lãnh đạo toàn cầu, quen áp đặt trật tự, chủ động xây dựng liên minh và điều chỉnh can dự dựa trên ưu thế sức mạnh vật chất. Ngược lại, Việt Nam tư duy xuất phát từ lịch sử dựng nước và giữ nước, vị thế quốc gia có tiềm lực hạn chế hơn, chú trọng độc lập tự chủ, phòng vệ chính đáng, hòa hiếu, linh hoạt và tránh đối đầu nước lớn.
4. Luận án đánh giá như thế nào về quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 1995 – 2015?
Tác giả đánh giá mối quan hệ trong 20 năm đầu bình thường hóa có tiến triển thực chất, tạo nền tảng chuyển từ nghi kỵ sang hợp tác (với mốc ký MOU năm 2011 và nới lỏng cấm vận vũ khí năm 2014), song mức độ phát triển còn vừa phải, thận trọng và chưa tương xứng hoàn toàn với khuôn khổ Quan hệ Toàn diện năm 2013 do những khác biệt về thể chế, nhân quyền và sự nhạy cảm lịch sử.
5. Lĩnh vực hợp tác quốc phòng nào được dự báo ưu tiên trong giai đoạn 2016 – 2020?
Các lĩnh vực trọng tâm gồm nâng cao năng lực an ninh hàng hải, hỗ trợ Cảnh sát biển, khắc phục hậu quả chiến tranh (tẩy độc dioxin, rà phá bom mìn), hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa (HADR), đào tạo tiếng Anh quân sự và huấn luyện tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc (PKO).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lại Thái Bình là công trình khoa học khảo sát có hệ thống các nhân tố chi phối quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ từ góc độ chuyên ngành Quan hệ Quốc tế. Bằng việc kết hợp lý luận Hiện thực với thực tiễn hoạch định chính sách đối ngoại – quốc phòng của Việt Nam và Hoa Kỳ, tác giả đã làm rõ quy luật vận động của mối quan hệ song phương qua 20 năm bình thường hóa (1995 – 2015). Luận án dự báo giai đoạn 2016 – 2020 mở ra nhiều điểm thuận để tăng cường hợp tác thực chất dựa trên sự tương đồng lợi ích về an ninh biển và ổn định khu vực, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu kiên trì nguyên tắc độc lập tự chủ và cân bằng chiến lược của Việt Nam.